logo
ISSN 2734-9020

Truyền thông chính sách về Luật Nhà giáo từ góc độ Quan hệ công chúng: Tiếp cận lý luận và khung phân tích

Thứ sáu, 09/10/2026 - 11:24

Tóm tắt: Luật Nhà giáo số 73/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 16/6/2025 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, quy định nhiều vấn đề liên quan trực tiếp đến hoạt động nghề nghiệp, quyền và nghĩa vụ, tuyển dụng, sử dụng, tiền lương, đãi ngộ, đào tạo, bồi dưỡng và quản lý nhà giáo. Việc đưa Luật vào thực tiễn không chỉ phụ thuộc vào nội dung và cơ chế tổ chức thực hiện mà còn liên quan đến cách thức chính sách được truyền thông, giải thích, tiếp nhận và phản hồi bởi các nhóm công chúng chịu tác động.

Bài viết tiếp cận truyền thông chính sách về Luật Nhà giáo từ góc độ Quan hệ công chúng, nhấn mạnh sự chuyển dịch từ truyền đạt thông tin một chiều sang quản trị mối quan hệ, tương tác và đối thoại giữa chủ thể chính sách với công chúng. Trên cơ sở phân tích, tổng hợp các nghiên cứu về truyền thông chính sách, truyền thông công, Quan hệ công chúng và quá trình hiện thực hóa chính sách trong môi trường giáo dục, bài viết đề xuất khung phân tích gồm ba nhóm chính: hoạt động truyền thông chính sách; quá trình tiếp nhận chính sách của giảng viên; các yếu tố thuộc bối cảnh tổ chức và đặc điểm công chúng. Khung phân tích gợi mở hướng nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa chất lượng truyền thông với hiểu biết, niềm tin, thái độ, sự đồng thuận và mức độ sẵn sàng thực hiện chính sách của giảng viên tại các cơ sở giáo dục đại học công lập.

1. Đặt vấn đề

Trong quản trị hiện đại, truyền thông ngày càng được nhìn nhận không chỉ là hoạt động cung cấp thông tin sau khi chính sách được ban hành mà còn là một bộ phận có quan hệ mật thiết với quá trình hình thành, triển khai và đánh giá chính sách. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế cho rằng truyền thông công không chỉ có chức năng cung cấp thông tin mà còn bao gồm lắng nghe và phản hồi công chúng vì lợi ích chung; qua đó có thể hỗ trợ quá trình hoạch định và thực hiện chính sách [2].

Trong lĩnh vực giáo dục, yêu cầu này đặc biệt đáng chú ý bởi chính sách thường tác động trực tiếp đến những nhóm công chúng có trình độ chuyên môn và có khả năng tự tiếp cận, phân tích, đánh giá và phản hồi chính sách. Các nghiên cứu về quá trình hiện thực hóa chính sách trong cơ sở giáo dục cho thấy chính sách khi đi vào từng tổ chức cụ thể chịu tác động của điều kiện, văn hóa, nguồn lực, đội ngũ và môi trường của tổ chức đó [3].

Tại Việt Nam, Luật Nhà giáo số 73/2025/QH15 tạo lập khuôn khổ pháp lý chuyên ngành đối với đội ngũ nhà giáo. Luật quy định về hoạt động nghề nghiệp, quyền và nghĩa vụ, chức danh và chuẩn nghề nghiệp, tuyển dụng và sử dụng, chính sách tiền lương và đãi ngộ, đào tạo, bồi dưỡng, hợp tác quốc tế, tôn vinh, khen thưởng, xử lý vi phạm và quản lý nhà giáo [1].

Tuy nhiên, một chính sách được ban hành không đồng nghĩa với việc đối tượng chịu tác động đã tiếp cận đầy đủ, hiểu đúng, tin tưởng, đồng thuận và sẵn sàng thực hiện. Khoảng cách giữa nội dung chính sách với nhận thức, hành động của công chúng có thể liên quan đến tính phức tạp của thông tin, cách thức xây dựng thông điệp, nguồn cung cấp thông tin, kênh truyền thông, mức độ nhất quán, cũng như cơ chế tương tác và phản hồi.

Từ góc độ Quan hệ công chúng, câu hỏi không chỉ dừng ở việc Luật Nhà giáo đã được phổ biến như thế nào, mà cần mở rộng sang các vấn đề: chủ thể chính sách xây dựng và duy trì mối quan hệ với công chúng giảng viên ra sao; thông tin được cung cấp và giải thích như thế nào; giảng viên tiếp nhận, đánh giá và phản hồi chính sách ra sao; các đặc điểm của hoạt động truyền thông có quan hệ thế nào với niềm tin, thái độ, sự đồng thuận và mức độ sẵn sàng thực hiện chính sách.

Bài viết hướng tới hai mục tiêu: thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận để tiếp cận truyền thông chính sách về Luật Nhà giáo từ góc độ Quan hệ công chúng; thứ hai, đề xuất khung phân tích phục vụ các nghiên cứu thực nghiệm tại các cơ sở giáo dục đại học công lập.

2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng chủ yếu phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa lý thuyết. Các nhóm tài liệu được xem xét gồm nghiên cứu về Quan hệ công chúng, truyền thông hai chiều, truyền thông công, truyền thông chính sách, chính sách giáo dục và quá trình hiện thực hóa chính sách trong cơ sở giáo dục.

Bên cạnh các công trình quốc tế, nghiên cứu kế thừa một số kết quả nghiên cứu trong nước về truyền thông chính sách và truyền thông chính sách giáo dục, trong đó có các công trình hệ thống hóa lý luận và kỹ năng truyền thông chính sách [7], nghiên cứu về truyền thông chính sách trong bối cảnh Việt Nam [8], cũng như một số nghiên cứu thực nghiệm về truyền thông chính sách trên báo chí và trong lĩnh vực giáo dục đại học [9], [10].

Trên cơ sở tổng hợp các hướng tiếp cận, bài viết xác định các thành tố có khả năng sử dụng để nghiên cứu truyền thông chính sách về Luật Nhà giáo và xây dựng khung phân tích theo hướng kết nối hoạt động của chủ thể truyền thông với quá trình tiếp nhận của công chúng.

3. Tiếp cận truyền thông chính sách về Luật Nhà giáo từ góc độ Quan hệ công chúng

3.1. Từ truyền đạt thông tin đến quản trị mối quan hệ với công chúng

Trong cách tiếp cận truyền thống, hoạt động truyền thông của cơ quan hoặc tổ chức thường được hiểu là cung cấp, phổ biến thông tin tới các nhóm đối tượng liên quan. Tuy nhiên, cách tiếp cận Quan hệ công chúng hiện đại nhấn mạnh rằng hiệu quả truyền thông không chỉ nằm ở việc thông tin được phát đi mà còn ở chất lượng mối quan hệ giữa tổ chức với các nhóm công chúng chiến lược.

Grunig cho rằng Quan hệ công chúng cần được xem như một chức năng quản trị chiến lược thay vì chỉ là hoạt động sản xuất thông điệp, quảng bá hoặc quan hệ báo chí [4]. Trọng tâm của chức năng này là mối quan hệ giữa tổ chức với những nhóm công chúng có khả năng ảnh hưởng tới hoặc chịu ảnh hưởng bởi hoạt động của tổ chức. Các nghiên cứu của Grunig và cộng sự phân biệt các mô hình truyền thông một chiều với các mô hình truyền thông hai chiều. Trong đó, mô hình hai chiều cân xứng đề cao trao đổi, lắng nghe và điều chỉnh giữa tổ chức với công chúng, thay vì chỉ tìm cách tác động để công chúng chấp nhận quan điểm của tổ chức [5].

Áp dụng vào truyền thông Luật Nhà giáo, nếu hoạt động truyền thông chỉ dừng ở việc cơ quan quản lý hoặc nhà trường chuyển nội dung văn bản tới giảng viên thì mới chủ yếu thực hiện chức năng cung cấp thông tin. Tiếp cận từ Quan hệ công chúng đòi hỏi quan tâm thêm tới nhu cầu thông tin của giảng viên, mức độ dễ hiểu của thông điệp, độ tin cậy của nguồn, khả năng trao đổi, đặt câu hỏi và phản hồi.

Từ đó, có thể hiểu truyền thông chính sách về Luật Nhà giáo từ góc độ Quan hệ công chúng là quá trình các chủ thể liên quan tổ chức cung cấp, giải thích và trao đổi thông tin về chính sách; thiết lập tương tác, tiếp nhận phản hồi và quản trị mối quan hệ với các nhóm công chúng nhằm tạo điều kiện để công chúng tiếp cận, hiểu, đánh giá và tham gia vào quá trình thực hiện chính sách.

3.2. Truyền thông hai chiều, đối thoại và phản hồi

Một trong những đặc điểm nổi bật của cách tiếp cận Quan hệ công chúng là coi công chúng như một chủ thể của quá trình truyền thông, thay vì chỉ là điểm đến của thông điệp.

Kent và Taylor nhấn mạnh vai trò của giao tiếp đối thoại trong việc xây dựng mối quan hệ giữa tổ chức với công chúng; theo đó, các phương tiện truyền thông không chỉ phục vụ việc truyền tải thông tin mà cần tạo điều kiện cho sự tương tác có ý nghĩa [6].

Trong truyền thông công, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế cũng đề cao việc lắng nghe, thu nhận thông tin từ công chúng và sử dụng những hiểu biết đó để điều chỉnh chương trình truyền thông theo nhu cầu thực tế của người dân [2].

Áp dụng vào truyền thông Luật Nhà giáo, tính hai chiều có thể được thể hiện qua khả năng giảng viên được đặt câu hỏi về những quy định liên quan đến mình; được giải thích về ý nghĩa và tác động của chính sách; có kênh phản ánh những vấn đề chưa rõ hoặc khó thực hiện; và nhận được phản hồi từ chủ thể có trách nhiệm. Khi đó, phản hồi không chỉ có chức năng giải đáp mà còn trở thành nguồn thông tin để tiếp tục điều chỉnh nội dung và phương thức truyền thông.

3.3. Giảng viên là nhóm công chúng đặc thù

Trong truyền thông chính sách về Luật Nhà giáo tại các cơ sở giáo dục đại học công lập, giảng viên có thể được xem là nhóm công chúng đặc thù trên ba phương diện.

Thứ nhất, giảng viên là nhóm chịu tác động trực tiếp của chính sách. Nhiều quy định của Luật liên quan đến hoạt động nghề nghiệp, quyền và nghĩa vụ, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và chế độ đối với nhà giáo [1].

Thứ hai, giảng viên đồng thời là chủ thể trực tiếp thực hiện nhiều nội dung của chính sách. Vì vậy, mức độ hiểu biết và thái độ đối với chính sách không chỉ có ý nghĩa ở phương diện nhận thức mà còn có thể tác động tới quá trình đưa chính sách vào thực tiễn.

Thứ ba, giảng viên là nhóm công chúng có khả năng diễn giải, trao đổi và phản hồi chính sách. Các nghiên cứu về quá trình hiện thực hóa chính sách trong giáo dục chỉ ra rằng chủ thể trong cơ sở giáo dục không tiếp nhận chính sách hoàn toàn thụ động mà diễn giải và thực hiện chính sách trong những bối cảnh cụ thể [3].

Do đó, giảng viên cần được xem là công chúng chiến lược của truyền thông chính sách về Luật Nhà giáo, chứ không chỉ là đối tượng tiếp nhận thông tin.

4. Các thành tố của truyền thông chính sách về Luật Nhà giáo

4.1. Chủ thể truyền thông

Chủ thể truyền thông có thể bao gồm cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, lãnh đạo cơ sở giáo dục đại học, các đơn vị phụ trách tổ chức – cán bộ, pháp chế, truyền thông, khoa, viện và các chủ thể có liên quan. Nghiên cứu về chủ thể truyền thông cần làm rõ người cung cấp thông tin; xem xét thẩm quyền, mức độ tin cậy, sự phối hợp và tính nhất quán giữa các chủ thể.

4.2. Nội dung và thông điệp

Văn bản chính sách thường có tính pháp lý và hàm lượng thông tin cao. Vì vậy, truyền thông chính sách cần chuyển hóa nội dung chính sách thành những thông điệp rõ ràng, dễ hiểu và phù hợp với nhu cầu của từng nhóm công chúng. Đối với giảng viên, nội dung truyền thông cần làm rõ những vấn đề như: chính sách có điểm gì mới; nội dung nào liên quan trực tiếp đến giảng viên; quyền và nghĩa vụ có gì thay đổi; các thay đổi đó có ý nghĩa như thế nào đối với hoạt động nghề nghiệp.

4.3. Nguồn, kênh và phương thức truyền thông

Thông tin về Luật Nhà giáo có thể đến từ nhiều nguồn như cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở giáo dục, báo chí, mạng xã hội hoặc các kênh trao đổi chuyên môn. Từ góc độ Quan hệ công chúng, cần xem xét mức độ phù hợp của từng kênh với nhu cầu và hành vi tiếp nhận thông tin của giảng viên; khả năng tích hợp giữa truyền thông trực tiếp và truyền thông số; đồng thời chú ý tới tính nhất quán giữa các nguồn.

4.4. Chất lượng thông tin

Chất lượng thông tin có thể được đánh giá thông qua tính chính xác, đầy đủ, kịp thời, rõ ràng, dễ hiểu, nhất quán, minh bạch, phù hợp và khả năng tiếp cận. Đây là nhóm yếu tố quan trọng bởi thông tin chính sách không chỉ cần đúng mà còn phải có khả năng được công chúng hiểu và sử dụng.

4.5. Độ tin cậy của nguồn truyền thông

Công chúng không chỉ đánh giá nội dung thông tin mà còn đánh giá chủ thể cung cấp thông tin. Uy tín, thẩm quyền, tính chuyên môn, sự minh bạch và nhất quán của nguồn có thể ảnh hưởng tới mức độ tin tưởng của công chúng. Nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế cho thấy truyền thông công hiệu quả có quan hệ với những yếu tố như tính đáp ứng, độ tin cậy, sự cởi mở và công bằng của các thiết chế công [2].

4.6. Tương tác và phản hồi

Tương tác và phản hồi là thành tố thể hiện rõ sự khác biệt giữa cách tiếp cận Quan hệ công chúng với mô hình truyền đạt thông tin một chiều.

Các chỉ báo có thể bao gồm cơ hội đặt câu hỏi, khả năng tiếp cận đơn vị có trách nhiệm giải thích, mức độ kịp thời của phản hồi, khả năng tham gia đối thoại và việc ý kiến của giảng viên có được tiếp nhận, tổng hợp và sử dụng để điều chỉnh hoạt động truyền thông hay không.

5. Quá trình tiếp nhận chính sách của giảng viên

Hiệu quả truyền thông không thể chỉ được đánh giá từ phía chủ thể truyền thông mà còn phải được xem xét từ phía công chúng. Trên cơ sở các hướng nghiên cứu về Quan hệ công chúng, truyền thông chính sách và quá trình tiếp nhận chính sách, bài viết đề xuất xem sự tiếp nhận chính sách của giảng viên theo chuỗi: Tiếp cận thông tin → Hiểu biết chính sách → Niềm tin → Thái độ → Đồng thuận → Sẵn sàng thực hiện.

Trong đó, tiếp cận thông tin phản ánh mức độ và khả năng tiếp xúc với thông tin; hiểu biết phản ánh khả năng nắm bắt nội dung và ý nghĩa chính sách; niềm tin phản ánh mức độ tin tưởng đối với thông tin và nguồn truyền thông; thái độ thể hiện đánh giá của giảng viên; đồng thuận thể hiện mức độ chấp nhận hoặc ủng hộ; còn sự sẵn sàng thực hiện thể hiện khuynh hướng chuyển từ nhận thức và thái độ sang hành động.

6. Đề xuất khung phân tích

Từ các luận điểm trên, bài viết đề xuất khung phân tích gồm ba nhóm chính.

Nhóm thứ nhất: Hoạt động truyền thông chính sách, bao gồm chủ thể truyền thông; nội dung và thông điệp; nguồn, kênh và phương thức truyền thông; chất lượng thông tin; độ tin cậy của nguồn; tương tác và phản hồi.

Nhóm thứ hai: Quá trình tiếp nhận của giảng viên, gồm tiếp cận thông tin; hiểu biết chính sách; niềm tin; thái độ; đồng thuận; sẵn sàng thực hiện.

Nhóm thứ ba: Các yếu tố bối cảnh, gồm đặc điểm cá nhân và nghề nghiệp của giảng viên, đặc điểm của cơ sở giáo dục, văn hóa tổ chức, năng lực truyền thông và mức độ quan tâm tới chính sách.

Khung phân tích cụ thể như sau:

Khung phân tích này cho phép chuyển trọng tâm từ câu hỏi mô tả "đã truyền thông nội dung gì, bằng kênh nào" sang câu hỏi giải thích "những đặc điểm nào của hoạt động truyền thông có quan hệ với quá trình tiếp nhận và phản ứng của giảng viên đối với chính sách".

7. Kết luận

Tiếp cận truyền thông chính sách về Luật Nhà giáo từ góc độ Quan hệ công chúng gợi mở một số vấn đề sau:

Thứ nhất, cần chuyển từ tư duy phổ biến văn bản sang quản trị mối quan hệ với công chúng chính sách. Việc gửi một văn bản, đăng một tin trên website hay tổ chức một hội nghị chỉ chứng minh rằng thông tin đã được cung cấp, nhưng chưa đủ để khẳng định truyền thông đạt hiệu quả.

Thứ hai, giảng viên cần được xác định là công chúng trung tâm. Điều này đòi hỏi chủ thể truyền thông phải nghiên cứu nhu cầu thông tin, phân nhóm công chúng và xây dựng nội dung phù hợp.

Thứ ba, hiệu quả truyền thông cần được đánh giá từ phía công chúng. Những chỉ số như số lượng tin bài hay lượt tiếp cận chỉ phản ánh một phần của quá trình. Những chỉ báo sâu hơn cần bao gồm hiểu biết, độ tin cậy, thái độ, khả năng đối thoại, mức độ đồng thuận và sự sẵn sàng thực hiện.

Thứ tư, phản hồi cần trở thành một bộ phận của quy trình truyền thông. Cách tiếp cận Quan hệ công chúng hai chiều coi thông tin từ công chúng là đầu vào để tổ chức tiếp tục điều chỉnh hoạt động [5], [6].

Thứ năm, cần đặt hoạt động truyền thông trong bối cảnh cụ thể của từng cơ sở giáo dục. Các nghiên cứu về hiện thực hóa chính sách cho thấy cùng một chính sách nhưng cách diễn giải và thực hiện có thể khác nhau do điều kiện tổ chức, đội ngũ, văn hóa và nguồn lực [3].

Tóm lại, truyền thông chính sách về Luật Nhà giáo cần được nhìn nhận như một quá trình rộng hơn việc phổ biến nội dung của văn bản pháp luật. Từ góc độ Quan hệ công chúng, trọng tâm của truyền thông nằm ở mối quan hệ giữa chủ thể chính sách với công chúng, trong đó cung cấp thông tin, giải thích, tương tác, lắng nghe và phản hồi là những thành tố có quan hệ mật thiết với nhau. Bài viết đề xuất khung phân tích kết nối hai phía của quá trình truyền thông: một phía là hoạt động của chủ thể truyền thông, gồm chủ thể, nội dung và thông điệp, nguồn và kênh, chất lượng thông tin, độ tin cậy, tương tác và phản hồi; phía còn lại là quá trình tiếp nhận của giảng viên, gồm tiếp cận, hiểu biết, niềm tin, thái độ, đồng thuận và sẵn sàng thực hiện chính sách. Khung phân tích này có thể tạo cơ sở cho các nghiên cứu thực nghiệm về truyền thông chính sách về Luật Nhà giáo tại các cơ sở giáo dục đại học công lập, đồng thời góp phần bổ sung cách tiếp cận Quan hệ công chúng vào nghiên cứu truyền thông chính sách trong lĩnh vực giáo dục.

Ths. Âu Thanh Thảo - Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam

TS. Âu Thanh Ngọc - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội


Tài liệu tham khảo

[1] Quốc hội (2025), Luật Nhà giáo số 73/2025/QH15, ban hành ngày 16/6/2025, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026.

[2] OECD (2021), OECD Report on Public Communication: The Global Context and the Way Forward, OECD Publishing, Paris.

[3] Braun, A., Ball, S. J., Maguire, M., & Hoskins, K. (2011), "Taking context seriously: Towards explaining policy enactments in the secondary school", Discourse: Studies in the Cultural Politics of Education, 32(4), pp. 585–596.

[4] Grunig, J. E. (2006), "Furnishing the Edifice: Ongoing Research on Public Relations as a Strategic Management Function", Journal of Public Relations Research, 18(2), pp. 151–176.

[5] Grunig, J. E., Grunig, L. A., Sriramesh, K., Huang, Y. H., & Lyra, A. (1995), "Models of Public Relations in an International Setting", Journal of Public Relations Research, 7(3), pp. 163–186.

[6] Kent, M. L., & Taylor, M. (1998), "Building Dialogic Relationships through the World Wide Web", Public Relations Review, 24(3), pp. 321–334.

[7] Lương Ngọc Vĩnh (2020), Giáo trình Lý thuyết và kỹ năng truyền thông chính sách, Nhà xuất bản Lý luận chính trị.

[8] Học viện Báo chí và Tuyên truyền & Cơ quan Hợp tác Quốc tế Hàn Quốc (2016), Truyền thông chính sách – Kinh nghiệm Việt Nam và Hàn Quốc, Nhà xuất bản Lý luận chính trị.

[9] Hoàng Lê Thúy Nga (2023), Truyền thông chính sách về giáo dục đại học trên báo điện tử Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Báo chí học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

[10] Đinh Quỳnh Anh (2023), Truyền thông chính sách kinh tế trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Báo chí học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền.