logo
ISSN 2734-9020

TƯ DUY TRIẾT HỌC VỀ BA ĐỘT PHÁ: THỂ CHẾ, NHÂN LỰC VÀ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ - BẢN LỀ KIẾN TẠO TẦM NHÌN VIỆT NAM 2045

Thứ bảy, 17/01/2026 - 22:19

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đánh dấu bước chuyển có ý nghĩa lịch sử trong tiến trình phát triển đất nước, thể hiện rõ năng lực tự đổi mới và tầm nhìn chiến lược của Đảng trong bối cảnh thế giới biến động sâu sắc. Không chỉ tổng kết gần bốn thập niên đổi mới, Đại hội XIV còn kiến tạo hệ chuẩn tư duy cho giai đoạn phát triển mới, đặc biệt qua tầm nhìn đến năm 2045 với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế.

Ba đột phá chiến lược được Đại hội xác lập – hoàn thiện thể chế chính trị – pháp luật hiện đại; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; thúc đẩy khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – tạo thành cấu trúc nền tảng của mô hình phát triển trong kỷ nguyên mới. Không chỉ mang ý nghĩa quản trị, ba trụ cột này còn phản ánh nhận thức triết lý về phát triển bền vững dựa trên thể chế minh bạch, con người được giải phóng năng lực và khoa học – công nghệ là động lực chủ đạo. Với những định hướng đó, Đại hội XIV trở thành điểm tựa tư tưởng và chính trị quan trọng để hiện thực hóa khát vọng hùng cường, phồn vinh của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XXI.

Từ khóa: Đại hội XIV, Thể chế, Nhân lực, Khoa học công nghệ, Đột phá.

1. Thể chế như kiến trúc của phát triển - Nền tảng triết học cho bước ngoặt Đại hội XIV

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV xác lập xây dựng và hoàn thiện thể chế, pháp luật như một trọng tâm mang tính nền tảng cho phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Tinh thần xuyên suốt của Dự thảo Văn kiện nhấn mạnh yêu cầu: "Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, kiên quyết tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các điểm nghẽn, nút thắt, khơi thông và giải phóng sức sản xuất, mọi nguồn lực, phát huy mọi động lực. Xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là động lực chính và phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất; hoàn thiện thể chế phát triển gắn với thực hiện đồng bộ 4 chuyển đổi: Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực; thu hút, trọng dụng nhân tài, đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất mới."[1] . Đây không chỉ là định hướng mang tính quản trị, mà còn phản ánh tư duy triết học sâu xa về vai trò của thể chế như "cấu trúc tạo lập trật tự phát triển", tức là khuôn khổ quy tắc – giá trị – cơ chế bảo đảm sự vận hành thông suốt của mọi hoạt động kinh tế – xã hội, đồng thời khuyến khích năng lực sáng tạo và phát huy tính chủ thể của con người trong bối cảnh chuyển đổi lớn của thời đại.

Trong Dự thảo Văn kiện, đổi mới thể chế tiếp tục được xác định là một trong ba đột phá chiến lược, gắn với yêu cầu then chốt: "Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, thúc đẩy đột phá chiến lược, kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới, bảo đảm quan điểm lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển và không ngừng nâng cao đời sống, hạnh phúc của Nhân dân; tập trung hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, trong đó thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là rất quan trọng"[2]. Trên bình diện triết học chính trị, đây là sự tái cấu trúc quyền lực theo hướng minh bạch, hiệu lực và có thể kiểm soát được, nhằm loại bỏ tình trạng chồng chéo, phân tán, trì trệ – những "điểm nghẽn" có thể làm suy yếu năng lực kiến tạo phát triển của Nhà nước. Sự hoàn thiện ấy đòi hỏi mô hình Nhà nước tinh gọn, chuyên nghiệp, quản trị hiện đại; mở rộng phân cấp, phân quyền đi đôi với tăng cường giám sát, kiểm tra và trách nhiệm giải trình; bảo đảm sự chủ động và sáng tạo của chính quyền các cấp trong thực thi công vụ. Đây cũng chính là điều kiện để nhà nước phát huy vai trò kiến tạo phát triển trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược và chuyển đổi mô hình tăng trưởng toàn cầu.

Trong tiến trình hiện đại hóa quốc gia, hoàn thiện thể chế vừa là yêu cầu cấp bách vừa là nhiệm vụ lâu dài, gắn liền với việc tăng cường công khai, minh bạch và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Trong điều kiện mới, hoàn thiện thể chế không thể chỉ dừng lại ở việc sửa đổi từng phần các văn bản pháp luật, mà cần kiến tạo một kiến trúc pháp lý đồng bộ, thống nhất, có tính thích ứng cao. Chính kiến trúc đó phải đủ năng lực xử lý những vấn đề phức tạp nảy sinh từ sự phát triển nhanh, từ tác động của công nghệ mới, từ các động lực tăng trưởng xanh – số – kinh tế tri thức, và từ bối cảnh cạnh tranh chiến lược quốc tế. Từ góc nhìn triết học pháp quyền, yêu cầu này đòi hỏi xây dựng hệ thống thiết chế có khả năng bảo đảm công lý xã hội, kiểm soát quyền lực một cách thực chất và ngăn ngừa nguy cơ tha hóa quyền lực. Bởi vậy, Dự thảo Văn kiện cần nhấn mạnh mạnh mẽ hơn nhiệm vụ hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực theo hướng minh bạch, có chế tài hiệu lực; phát huy vai trò của thanh tra, kiểm toán, giám sát xã hội và báo chí cách mạng; đồng thời ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số để nâng cao mức độ trách nhiệm giải trình của các thiết chế công quyền. Năng lực kiểm soát quyền lực hiệu quả sẽ góp phần củng cố niềm tin xã hội, nâng cao tính liêm chính của bộ máy nhà nước và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân – nền tảng của một "trật tự xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".

Những định hướng đổi mới thể chế phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2025–2030 và tầm nhìn 2045, bảo đảm tính liên thông giữa cải cách thể chế và các trụ cột tăng trưởng bền vững. Thể chế cần được nhận thức không chỉ như "luật chơi" mà còn như "đòn bẩy chiến lược" của quá trình tái cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất lao động, phát triển công nghệ cao, kinh tế số, kinh tế xanh; đồng thời tạo ra môi trường pháp lý ổn định, tiên tiến, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong bối cảnh kinh tế tư nhân đang nổi lên như một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa càng trở nên cấp thiết. Điều này không chỉ nhằm tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp, mở rộng không gian phát triển của kinh tế tư nhân, mà còn nhằm tăng khả năng hấp thụ vốn đầu tư nước ngoài, phối hợp hài hòa giữa động lực thị trường và vai trò điều tiết của Nhà nước, hướng tới một cấu trúc kinh tế hiện đại, hội nhập sâu rộng và có khả năng cạnh tranh quốc tế. Thể hiện tinh thần đó, Nghị quyết số 66-NQ/TW (30/4/2025) đã nhấn mạnh: "Xây dựng pháp luật phải bám sát thực tiễn, "đứng trên mảnh đất thực tiễn của Việt Nam", tiếp thu có chọn lọc giá trị tinh hoa của nhân loại, bảo đảm tính hệ thống, nắm bắt mọi cơ hội, mở đường, khơi thông mọi nguồn lực; đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ cho phát triển, tạo dư địa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế "hai con số", nâng cao đời sống của Nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước."[3]

Từ các định hướng chiến lược trên, có thể khẳng định Đại hội XIV đã đặt nền móng tư tưởng và thực tiễn quan trọng cho một bước ngoặt phát triển mới về thể chế – coi thể chế là "khung kiến trúc" của tiến trình kiến tạo quốc gia giai đoạn 2025–2045. Hoàn thiện thể chế không chỉ là yêu cầu của quản lý nhà nước, mà còn là động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm công bằng và tiến bộ xã hội, tăng cường ổn định chính trị – xã hội và nuôi dưỡng khát vọng phát triển đất nước hùng cường. Trên bình diện triết học chính trị, thể chế vừa là "lực kéo" tạo ổn định, vừa là "lực đẩy" kích hoạt sự phát triển; là không gian pháp lý – giá trị nơi quyền lực được kiểm soát, công lý được bảo đảm và con người được phát huy vai trò chủ thể. Trong viễn cảnh đó, hoàn thiện thể chế trở thành điều kiện tất yếu để Việt Nam bước vào thời kỳ phát triển mới, hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 – một mục tiêu vừa mang ý nghĩa kinh tế, vừa mang giá trị triết học về sự giải phóng, phát triển toàn diện con người và cộng đồng dân tộc.

2. Con người - Nguồn nhân lực chất lượng cao của quốc gia hiện đại

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự trỗi dậy của xã hội tri thức đang tái cấu trúc nền sản xuất và toàn bộ đời sống xã hội, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là điều kiện bản thể luận để khẳng định năng lực tự cường của dân tộc trong kỷ nguyên số. Điều này đặt ra đòi hỏi phải phát triển con người một cách toàn diện cả về trí tuệ, thể chất, nhân cách và năng lực sáng tạo. Chủ nghĩa Mác – Lênin từ rất sớm đã coi phát triển toàn diện con người là mục tiêu cốt lõi của xã hội mới, xuất phát từ luận điểm mang tính khai mở rằng: "Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội"[4]. Thông qua quá trình cải biến tự nhiên, con người đồng thời cải biến chính mình, phát triển cả thể lực, trí tuệ và đời sống tinh thần, trong đó giáo dục giữ vai trò quyết định trong việc hình thành các phẩm chất toàn diện của con người trong xã hội mới. Giáo dục không chỉ truyền thụ tri thức mà còn nuôi dưỡng tư duy khoa học, tinh thần sáng tạo và ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng. Cuối cùng, việc đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển trở thành nguyên tắc có tính phương pháp luận trong Chủ nghĩa Mác – Lênin. Một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh chính là môi trường để các nhu cầu cơ bản được bảo đảm, quyền tự do – sáng tạo được phát huy và mỗi cá nhân có điều kiện phát triển tối đa tiềm năng của mình.

Thực tiễn thời gian qua cho thấy: "Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển toàn diện con người ngày càng đầy đủ, trọng tâm và thực chất. Việc phát hiện, thu hút, đào tạo, trọng dụng nhân tài bước đầu có chuyển biến tích cực. Chỉ số phát triển con người (HDI) được cải thiện rõ rệt, tăng 14 bậc, đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước phát triển con người cao. Chỉ số xếp hạng hạnh phúc tăng 33 bậc so với đầu nhiệm kỳ, xếp thứ 46/143 quốc gia"[5]. Những kết quả này khẳng định rõ nguồn nhân lực – đặc biệt là đội ngũ khoa học, công nghệ, kỹ thuật, lực lượng sáng tạo và doanh nhân tri thức – phải được nhìn nhận là trung tâm động lực của chiến lược phát triển quốc gia trong giai đoạn mới. Phát triển con người không chỉ là mục tiêu mà còn là điểm tựa của mọi tiến trình đổi mới sáng tạo, là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên kinh tế tri thức và chuyển đổi số.

Từ định hướng đó, yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và trọng dụng nhân tài được xác lập như mạch chủ đạo của mô hình phát triển mới. Dự thảo Báo cáo Chính trị tại Đại hội XIV nhấn mạnh: "Tập trung đào tạo nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp, công nghệ chiến lược. Có cơ chế, chính sách đặc biệt để phát hiện, thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài; chú trọng thu hút các nhà khoa học giỏi, chuyên gia đầu ngành trong và ngoài nước, nhất là các ngành khoa học cơ bản và các lĩnh vực đặc biệt quan trọng"[6]. Điều này đòi hỏi quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo phải được triển khai theo hướng không chỉ chuẩn hóa chuyên môn mà còn thúc đẩy năng lực tư duy phản biện, tư duy hệ thống, sáng tạo và đổi mới. Hệ thống giáo dục quốc dân cần được kiến tạo theo mô hình mở, linh hoạt, liên thông, gắn với thị trường lao động toàn cầu, đủ khả năng cung ứng nguồn nhân lực có kỹ năng số, kỹ năng mềm và năng lực thích ứng trước biến động của khoa học – công nghệ.

Song hành với nhiệm vụ đào tạo, việc phát triển đội ngũ cán bộ chiến lược giữ vai trò đặc biệt trong kiến tạo năng lực quản trị quốc gia theo tiêu chuẩn hiện đại. Yêu cầu phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài – nhất là những chuyên gia đầu ngành, đội ngũ lãnh đạo có bản lĩnh chính trị, nền tảng tri thức khoa học và tư duy đổi mới – trở thành cấu phần không thể tách rời của kiến trúc quyền lực trong bối cảnh mới. Đồng thời, các chính sách thu hút và giữ chân nhân lực khoa học – công nghệ cần được đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, góp phần hình thành "chuỗi động lực chiến lược" thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, xanh, tuần hoàn và bền vững.

Trong chiều kích hội nhập toàn cầu ngày càng sâu rộng, phát triển nhân lực chất lượng cao đòi hỏi mở rộng hợp tác quốc tế về giáo dục, khoa học – công nghệ, thu hút nguồn lực tri thức toàn cầu và tham gia sâu hơn vào mạng lưới đổi mới sáng tạo quốc tế. Đây là con đường để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, gia nhập chuỗi giá trị tri thức và khẳng định vị thế trong kinh tế số, kinh tế trí tuệ nhân tạo và các ngành công nghệ chiến lược.

Từ tổng thể các định hướng trên, có thể khẳng định rằng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là đột phá chiến lược mang ý nghĩa quyết định trong Văn kiện Đại hội XIV. Đây chính là nền tảng để Việt Nam nắm bắt được cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, củng cố năng lực nội sinh, khơi mở động lực phát triển mới và hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, hùng cường, bền vững vào năm 2045. Trong tầm nhìn đó, nguồn nhân lực đóng vai trò "nhân tố trung tâm", là chủ thể kiến tạo mô hình phát triển mới của đất nước trong thời đại tri thức và công nghệ số.

3. Đột phá trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số toàn cầu đang tái định hình cấu trúc phát triển của thế giới, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã trở thành lực lượng sản xuất mới mang tính quyết định đối với năng lực tự cường, sức cạnh tranh và triển vọng phát triển dài hạn của mỗi quốc gia. Đây không chỉ là xu thế khách quan mà còn là tiêu chí phản ánh trình độ phát triển và vị thế quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu. Dự thảo Báo cáo Chính trị đã xác định rõ: "Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tiếp tục được xác định là động lực phát triển. Thể chế khoa học, công nghệ được chú trọng đổi mới, hoàn thiện và phát triển đồng bộ hơn; tiềm lực khoa học, công nghệ được tăng cường. Hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ được đẩy mạnh; đổi mới sáng tạo và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp được khuyến khích"[7]. Đây là khẳng định có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng, đặt khoa học – công nghệ vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển đến năm 2045.

Thứ nhất, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo toàn diện được coi là nền tảng cấu trúc của mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức. Một hệ sinh thái vận hành hiệu quả phải thiết lập được mối liên kết hữu cơ giữa các thiết chế khoa học – công nghệ, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, trường đại học, viện nghiên cứu, trung tâm công nghệ cao, các tập đoàn công nghệ và mạng lưới đầu tư mạo hiểm. Sự kết nối đó tạo nên một chỉnh thể động, thúc đẩy chuyển giao tri thức, ứng dụng công nghệ mới và tạo ra giá trị gia tăng vượt trội. Do đó, việc hoàn thiện thể chế, tăng cường ưu đãi, phát triển tài chính cho đổi mới sáng tạo không chỉ nhằm thu hút và trọng dụng nhân tài khoa học – công nghệ, mà còn hướng tới kiến tạo môi trường thuận lợi để kinh tế tri thức trở thành một cấu phần chủ đạo của nền kinh tế. Ở đó, đổi mới sáng tạo được xem là logic vận động của phát triển, thay thế mô hình tăng trưởng dựa vào tài nguyên, lao động giá rẻ và gia công truyền thống.

Thứ hai, chiến lược chuyển đổi số quốc gia được đặt vào vị trí đột phá nhằm tái cấu trúc phương thức quản trị, mô hình sản xuất và tương tác xã hội. Hạ tầng số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, Internet vạn vật và an toàn thông tin phải được phát triển như những cấu phần thiết yếu của một nền tảng số hiện đại. Đặc biệt, ứng dụng công nghệ số trong quản trị nhà nước mang ý nghĩa phương thức, cho phép nâng cao minh bạch, tăng cường trách nhiệm giải trình, giảm chi phí giao dịch và cải thiện hiệu quả điều hành. Điều này tạo tiền đề cho chính phủ số, kinh tế số và xã hội số phát triển đồng bộ, trở thành ba trụ cột mới của mô hình phát triển quốc gia. Chuyển đổi số vì thế không chỉ là ứng dụng công nghệ mà là quá trình cải cách toàn diện, gắn với đổi mới tư duy quản trị, cấu trúc tổ chức và văn hóa vận hành của bộ máy nhà nước và khu vực tư nhân.

Thứ ba, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược về công nghệ ngày càng gay gắt, mở rộng hợp tác quốc tế trong khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành yêu cầu mang tính chiến lược. Việc kết nối với các trung tâm khoa học – công nghệ hàng đầu sẽ giúp Việt Nam tiếp nhận dòng tri thức mới, nâng cao năng lực nghiên cứu – phát triển, tiếp cận chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng sản phẩm đổi mới sáng tạo nội địa. Đồng thời, hợp tác quốc tế còn có ý nghĩa thiết thực trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia trong những lĩnh vực công nghệ mang tính quyết định như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, an ninh mạng hay các công nghệ lưỡng dụng. Đây là điều kiện quan trọng để Việt Nam mở rộng không gian phát triển và nâng tầm vị thế trên trường quốc tế.

Từ những định hướng nêu trên, có thể khẳng định rằng phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là điều kiện quyết định để Việt Nam chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động và tạo dựng lợi thế cạnh tranh trong kỷ nguyên số. Triển khai đồng bộ các giải pháp về xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, phát triển hạ tầng số hiện đại và mở rộng hợp tác quốc tế sẽ tạo nền tảng cho một Việt Nam phát triển, sáng tạo, tự cường và hội nhập sâu rộng, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.

4. Liên kết ba đột phá: thể chế – nhân lực – khoa học công nghệ trong tầm nhìn Việt Nam 2045

Đại hội Đảng lần thứ XIV xác định ba đột phá chiến lược – hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và thúc đẩy khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo – như những trụ cột cấu thành nền tảng phát triển bền vững của đất nước trong tiến trình hướng tới năm 2045. Ba đột phá này không tồn tại tách rời mà gắn kết trong một quan hệ biện chứng, mỗi yếu tố vừa là điều kiện, vừa là động lực của hai yếu tố còn lại, tạo nên chu trình phát triển đồng bộ, phù hợp với yêu cầu của kỷ nguyên số và xã hội tri thức.

Thể chế hiện đại, minh bạch là hình thức tổ chức năng lực phát triển quốc gia, giữ vai trò kích hoạt và dẫn dắt sáng tạo của con người, đồng thời thúc đẩy ứng dụng khoa học – công nghệ. Hệ thống pháp luật ổn định, khả thi; cơ chế phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình; cùng môi trường minh bạch, liêm chính là nền tảng để các thiết chế giáo dục, doanh nghiệp và cơ sở nghiên cứu vận hành hiệu quả. Thể chế trở thành "khung mang" của đổi mới sáng tạo, bảo đảm công khai, minh bạch trong quản trị, củng cố niềm tin xã hội và thu hút nguồn lực cho phát triển.

Nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân tố trung tâm trực tiếp kiến tạo, vận hành và cải biến cả thể chế lẫn công nghệ. Đội ngũ nhân lực có tri thức chuyên sâu, kỹ năng sáng tạo và tư duy quản trị hiện đại không chỉ triển khai các tiến bộ công nghệ mà còn góp phần xây dựng thiết chế phát triển hiệu quả. Đặc biệt, nguồn nhân lực ưu tú trong công nghệ cao và khoa học xã hội là lực lượng định hình tầm nhìn, nâng cao năng lực quản trị quốc gia, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển chính phủ điện tử và cải cách lối quản trị theo chuẩn mực mới.

Khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo tạo ra đòn bẩy nâng cao hiệu suất của thể chế và nhân lực. Các công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn giúp tái cấu trúc quy trình quản lý, tăng minh bạch, nâng hiệu quả giám sát, rút ngắn thời gian xử lý và giảm chi phí xã hội. Đồng thời, công nghệ mới định hình lại phương thức sản xuất và dịch vụ, nâng năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh. Vai trò của khoa học – công nghệ còn lan tỏa sang quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, tạo giá trị gia tăng mới cho nền kinh tế.

Sự kết nối hài hòa giữa thể chế, nhân lực và khoa học – công nghệ tạo nên mô hình phát triển hướng đến kinh tế tri thức – nền kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo, linh hoạt và có khả năng thích ứng cao trước biến động của bối cảnh quốc tế và nội tại. Tầm nhìn Việt Nam 2045 – dấu mốc 100 năm thành lập nước – được hình dung như một quốc gia thịnh vượng, hiện đại, có vị thế cao. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, việc phát huy đồng bộ sức mạnh của ba đột phá chiến lược là điều kiện quyết định. Chỉ khi ba trụ cột này được triển khai nhất quán và tương hỗ, Việt Nam mới có thể vượt qua thách thức, củng cố nền tảng phát triển dài hạn, bảo đảm công bằng xã hội và nâng cao chất lượng sống của nhân dân.

Đại hội XIV mở ra thời kỳ phát triển mới, nơi ba đột phá chiến lược được khẳng định như nền tảng cho quá trình tái kiến tạo mô hình phát triển quốc gia. Hướng tới năm 2045 – cột mốc trăm năm nước Việt Nam hiện đại – Đại hội nhấn mạnh con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phải được thúc đẩy bằng cấu trúc phát triển dựa trên đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia. Đây là sự kết hợp giữa ý chí dân tộc và sức mạnh của thời đại, trên nền tảng giá trị xã hội chủ nghĩa, nhằm hiện thực hóa mục tiêu quốc gia. Việt Nam 2045 vì thế không phải là viễn tưởng mà là sứ mệnh lịch sử, được kiến tạo bằng tư duy chiến lược, bản lĩnh tự cường và khát vọng vươn lên của toàn dân tộc trong thế kỷ XXI.


Tài liệu tham khảo:

1.. Ban Chấp hành Trung ương, Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội, 14/10/2025, Tr19.

2. Ban Chấp hành Trung ương, Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội, 14/10/2025, Tr21.

3. Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Tr2.

4. C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập (1995). Tập 3. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Tr. 19.

5. Ban Chấp hành Trung ương, Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội, 14/10/2025, Tr4.

6. Ban Chấp hành Trung ương, Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội, 14/10/2025, Tr29.

7. Ban Chấp hành Trung ương, Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội, 14/10/2025, Tr4.


[1] Ban Chấp hành Trung ương, Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội, 14/10/2025, Tr19.

[2] Ban Chấp hành Trung ương, Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội, 14/10/2025, Tr21.

[3] Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Tr2.

[4] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập (1995). Tập 3. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 19.

[5] Ban Chấp hành Trung ương, Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội, 14/10/2025, Tr4.

[6] Ban Chấp hành Trung ương, Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội, 14/10/2025, Tr29.

[7] Ban Chấp hành Trung ương, Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội, 14/10/2025, Tr4.

NCS. Nguyễn Thị Minh Hòa