Nếu khát vọng độc lập dân tộc là điểm khởi đầu trong tư tưởng và sự nghiệp cách mạng của Người, thì khát vọng xây dựng một đất nước "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn", Nhân dân được sống trong tự do, ấm no, hạnh phúc chính là đích đến mang giá trị nhân văn sâu sắc. Từ khát vọng độc lập dân tộc đến phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là sự vận động nhất quán, xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh và vẫn giữ nguyên giá trị đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước hiện nay.
Từ khát vọng độc lập đến con đường chân lý Mác – Lênin
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Việt Nam rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp, dân tộc mất độc lập, nhân dân lầm than, đất nước chìm trong khủng hoảng về đường lối cứu nước. Các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX như phong trào Cần Vương hay đầu thế kỷ XX như Đông Du, Duy Tân tuy thể hiện tinh thần yêu nước sâu sắc nhưng đều lần lượt thất bại. Thực tiễn lịch sử ấy đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tìm ra một con đường cứu nước mới phù hợp với điều kiện của dân tộc và xu thế của thời đại.
Sinh ra năm 1890 trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước tại Nghệ An, Nguyễn Sinh Cung sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm chứng kiến cảnh nước mất, nhà tan và nỗi khổ cực của nhân dân dưới ách áp bức thực dân phong kiến. Chính điều đó đã hun đúc trong Người khát vọng cháy bỏng về độc lập dân tộc và tự do cho đồng bào. Ngày 5/6/1911, với tên gọi Văn Ba, Người rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước, cột mốc đặc biệt quan trọng mở đầu cho hành trình tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc của Người.
Trong gần ba mươi năm bôn ba qua nhiều quốc gia ở châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, Nguyễn Ái Quốc vừa lao động kiếm sống, vừa nghiên cứu thực tiễn các cuộc cách mạng trên thế giới. Người nhận thấy rằng các cuộc cách mạng tư sản tuy đã lật đổ chế độ phong kiến nhưng vẫn chưa giải phóng triệt để người lao động và các dân tộc thuộc địa. Chính vì vậy, Người tiếp tục tìm kiếm một học thuyết cách mạng có thể giải phóng dân tộc một cách thực sự.
Năm 1919, thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc gửi tới Hội nghị Versailles "Bản yêu sách của nhân dân An Nam", Người đã yêu cầu các quyền tự do, dân chủ tối thiểu cho nhân dân Việt Nam. Dù không được chấp nhận, nhưng sự kiện này đánh dấu bước trưởng thành quan trọng trong tư duy chính trị của Người và đưa tên tuổi Nguyễn Ái Quốc đến với phong trào cách mạng quốc tế.
Tháng 7/1920 trở thành bước ngoặt có ý nghĩa quyết định trong hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc khi Người đọc "Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa" của Vladimir Ilyich Lenin đăng trên báo L'Humanité. Sau nhiều năm trăn trở giữa vô vàn con đường cứu nước khác nhau, lần đầu tiên Nguyễn Ái Quốc tìm thấy ở chủ nghĩa Mác – Lênin lời giải đáp đầy đủ và khoa học cho vấn đề dân tộc thuộc địa. Người xúc động viết: "Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao!"[1]. Đó không chỉ là sự xúc động của một người yêu nước tìm thấy con đường giải phóng dân tộc, mà còn là bước chuyển biến mang tính lịch sử trong tư duy chính trị của Nguyễn Ái Quốc: từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, từ khát vọng giải phóng dân tộc đến sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản như một tất yếu của lịch sử.
Tháng 12/1920, tại Đại hội Tours của Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Sự kiện ấy đánh dấu bước chuyển biến có tính lịch sử trong tư tưởng chính trị của Người: từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, từ nhận thức về con đường giải phóng dân tộc đến sự xác lập lập trường cách mạng vô sản. Từ ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, Nguyễn Ái Quốc nhận thức sâu sắc rằng muốn giải phóng dân tộc triệt để phải gắn cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng vô sản thế giới, đặt độc lập dân tộc trong mối quan hệ thống nhất với giải phóng giai cấp và giải phóng con người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ"[2]. Khẳng định ấy không chỉ phản ánh tầm cao tư duy lý luận của Người mà còn được hình thành từ quá trình khảo nghiệm thực tiễn bền bỉ qua nhiều quốc gia, nhiều cuộc cách mạng và nhiều học thuyết chính trị khác nhau. Đó là sự lựa chọn mang tính tất yếu lịch sử, mở ra bước ngoặt căn bản cho cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX và đặt nền móng tư tưởng cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam sau này.
Tiếp thu ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam, xác lập con đường giải phóng dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội – con đường phù hợp với quy luật phát triển của thời đại và đặc điểm lịch sử của dân tộc Việt Nam. Không rập khuôn máy móc mô hình cách mạng từ bên ngoài, Người luôn xuất phát từ thực tiễn đất nước, từ yêu cầu giải phóng dân tộc và quyền lợi của nhân dân lao động để hình thành đường lối cách mạng đúng đắn.
Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi mang ý nghĩa lịch sử: từ thành công của Cách mạng Tháng Tám, sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đến thắng lợi trong các cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước chứng minh một chân lý: "Không phải những mưu toan thiện ý của những cá nhân hào hiệp, mà chính là sự đấu tranh giai cấp có tổ chức của giai cấp vô sản mới giải phóng loài người khỏi những tai họa hiện đang đề lên họ"[3]. Không chỉ soi đường cho sự nghiệp giải phóng dân tộc trong thế kỷ XX, tư tưởng Hồ Chí Minh còn tiếp tục là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong thời đại mới, góp phần khơi dậy khát vọng phát triển Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.
2. Giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giành độc lập cho dân tộc Việt Nam
Trong lịch sử tư tưởng và phong trào giải phóng dân tộc thế kỷ XX, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc mang giá trị nhân văn sâu sắc và tiến bộ vượt thời đại. Đối với Người, đấu tranh giành độc lập không đơn thuần là giành lại chủ quyền quốc gia hay quyền tự quyết dân tộc, mà còn nhằm giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột và bất công; đem lại quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân. Chính chiều sâu nhân văn ấy đã tạo nên bản chất tốt đẹp và sức sống trường tồn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Từ rất sớm, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức sâu sắc rằng mất nước không chỉ là mất chủ quyền lãnh thổ mà còn đồng nghĩa với việc nhân dân phải sống trong cảnh nô lệ, đói nghèo và bị tước đoạt những quyền cơ bản của con người. Vì vậy, khát vọng độc lập trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn gắn liền với khát vọng giải phóng con người. Người ra đi tìm đường cứu nước không phải để tìm kiếm quyền lực cho một giai cấp hay một nhóm người, mà để "đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành"[4]. Khát vọng ấy phản ánh rõ tinh thần nhân văn cao cả trong tư tưởng và hành động cách mạng của Người.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, trong bối cảnh nền độc lập non trẻ đứng trước muôn vàn khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đặc biệt quan tâm tới đời sống nhân dân. Người khẳng định: "Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì"[5]. Quan điểm ấy thể hiện nhận thức sâu sắc rằng mục tiêu cuối cùng của cách mạng không chỉ là giành chính quyền mà còn phải xây dựng một xã hội trong đó nhân dân thực sự trở thành chủ thể của đất nước và được thụ hưởng thành quả của độc lập, tự do.
Giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn thể hiện ở quan điểm "lấy dân làm gốc". Người luôn nhấn mạnh vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng và khẳng định: "Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân"[6]. Theo Người, nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Mọi chủ trương, đường lối cách mạng đều phải xuất phát từ lợi ích của nhân dân, vì hạnh phúc của nhân dân và dựa vào sức mạnh của nhân dân. Chính tư tưởng ấy đã tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX.
Không chỉ đấu tranh cho độc lập của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh còn thể hiện tinh thần nhân văn rộng lớn khi đồng cảm sâu sắc với các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Người luôn đề cao quyền bình đẳng giữa các dân tộc, phản đối chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa áp bức và mọi hình thức bất công. Tư tưởng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh vì vậy không chỉ mang giá trị dân tộc mà còn mang ý nghĩa quốc tế sâu sắc, trở thành nguồn cổ vũ mạnh mẽ đối với phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.
Trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân vẫn mang giá trị thời sự sâu sắc. Phát triển đất nước không chỉ hướng tới tăng trưởng kinh tế mà còn phải bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển con người toàn diện. Khát vọng xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc mà Đảng và Nhà nước đang hướng tới cũng chính là sự kế thừa và phát triển nhất quán tư tưởng nhân văn cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời đại mới.
3. Từ khát vọng giải phóng dân tộc đến khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc
Trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giành độc lập dân tộc không phải đích đến cuối cùng của cách mạng mà là tiền đề để xây dựng một quốc gia phát triển, nhân dân được sống trong hòa bình, ấm no và hạnh phúc. Nếu khát vọng giải phóng dân tộc là động lực thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu nước thì khát vọng kiến thiết một nước Việt Nam giàu mạnh, văn minh lại trở thành mục tiêu chiến lược xuyên suốt trong tư duy chính trị và tầm nhìn phát triển của Hồ Chí Minh.
Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ tập trung bảo vệ nền độc lập non trẻ mà còn đặc biệt quan tâm đến nhiệm vụ kiến thiết đất nước. Trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam mới tháng 9/1945, Người viết: "Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em"[7]. Lời căn dặn ấy không chỉ thể hiện niềm tin vào thế hệ trẻ mà còn phản ánh khát vọng phát triển đất nước mạnh mẽ, hướng tới xây dựng một quốc gia độc lập, hùng cường và phát triển toàn diện.
Khát vọng phát triển đất nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện trên nhiều phương diện: phát triển kinh tế, nâng cao dân trí, xây dựng đời sống văn hóa mới, chăm lo con người và củng cố vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Người luôn nhấn mạnh mối quan hệ gắn bó giữa độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, bởi theo Người, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới tạo nền tảng vững chắc để nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc. Tư tưởng ấy cho thấy tầm nhìn chiến lược vượt trước thời đại của Hồ Chí Minh về con đường phát triển của dân tộc Việt Nam.
Không chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế, Hồ Chí Minh còn đặc biệt chú trọng xây dựng con người và phát triển văn hóa. Người cho rằng một dân tộc muốn phát triển bền vững phải có dân trí cao, đạo đức tốt và tinh thần tự lực, tự cường mạnh mẽ. Chính vì vậy, ngay trong hoàn cảnh đất nước còn nhiều khó khăn, Người vẫn xác định chống giặc dốt là nhiệm vụ cấp bách ngang với chống giặc đói và giặc ngoại xâm. Tư duy phát triển toàn diện ấy tiếp tục trở thành định hướng quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước hiện nay.
Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đau đáu khát vọng xây dựng đất nước "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn"[8]. Mong muốn ấy không chỉ phản ánh niềm tin vào tương lai dân tộc mà còn thể hiện tầm nhìn lớn lao về một nước Việt Nam phát triển toàn diện, nhân dân có cuộc sống hạnh phúc và đất nước có vị thế xứng đáng trên trường quốc tế. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, khát vọng ấy vẫn tiếp tục trở thành nguồn động lực tinh thần to lớn cho sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc càng mang ý nghĩa thời đại sâu sắc. Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định mục tiêu phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đồng thời khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và ý chí tự cường dân tộc. Đó không chỉ là mục tiêu phát triển kinh tế mà còn là sự kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện lịch sử mới.
Từ khát vọng giải phóng dân tộc đến khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là hành trình tư tưởng mang tầm vóc thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Giá trị ấy không chỉ soi đường cho cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX mà còn tiếp tục trở thành nền tảng tư tưởng, nguồn động lực tinh thần to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời đại mới.
4. Thanh niên trong hành trình hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc
Trong toàn bộ di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thanh niên luôn được Người đặt ở vị trí đặc biệt quan trọng đối với tương lai dân tộc. Hồ Chí Minh không chỉ đánh giá cao vai trò của thế hệ trẻ trong đấu tranh giải phóng dân tộc mà còn gửi gắm niềm tin sâu sắc vào lực lượng thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Người từng khẳng định: "Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà"[9]. Quan điểm ấy thể hiện tầm nhìn chiến lược của Hồ Chí Minh về vai trò quyết định của thế hệ trẻ đối với sự hưng thịnh và phát triển bền vững của quốc gia.
Trong các giai đoạn cách mạng, thanh niên Việt Nam luôn là lực lượng xung kích đi đầu. Trong kháng chiến, lớp lớp thanh niên sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, vai trò tiên phong của thanh niên tiếp tục được thể hiện trên nhiều lĩnh vực: học tập, nghiên cứu khoa học, chuyển đổi số, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế, bảo vệ chủ quyền quốc gia và quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới. Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi gắm đang được tiếp nối mạnh mẽ bởi tinh thần dấn thân và trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay.
Bước vào kỷ nguyên số và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thanh niên Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội lớn để khẳng định vai trò và trí tuệ của mình trong tiến trình phát triển đất nước. Tuy nhiên, cùng với cơ hội là không ít thách thức về cạnh tranh nguồn nhân lực, nguy cơ tụt hậu về công nghệ, tác động của mặt trái toàn cầu hóa và sự chống phá trên không gian mạng của các thế lực thù địch. Bối cảnh ấy đòi hỏi thanh niên không chỉ có tri thức, kỹ năng và tư duy đổi mới sáng tạo mà còn phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, lý tưởng cách mạng và tinh thần trách nhiệm đối với đất nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò của giáo dục và rèn luyện đối với thanh niên. Người căn dặn: "Đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên"[10]. Không chỉ là lời động viên, đó còn là yêu cầu về tinh thần tiên phong, ý chí vượt khó và trách nhiệm cống hiến của thế hệ trẻ đối với dân tộc. Trong bối cảnh hiện nay, tinh thần ấy cần được phát huy mạnh mẽ thông qua việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học – công nghệ và xây dựng lớp thanh niên "vừa hồng, vừa chuyên" như mong muốn của Người.
Bên cạnh nhiệm vụ học tập, lao động và sáng tạo, thanh niên hiện nay còn giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng. Trước sự lan truyền của thông tin xấu độc, quan điểm sai trái và những biểu hiện lệch chuẩn về nhận thức chính trị, thanh niên cần trở thành lực lượng tiên phong trong lan tỏa giá trị tích cực, bảo vệ sự thật lịch sử, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và củng cố niềm tin xã hội. Đây không chỉ là trách nhiệm chính trị mà còn là biểu hiện của lòng yêu nước trong điều kiện mới.
Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc mà Hồ Chí Minh để lại không thể trở thành hiện thực nếu thiếu vai trò của thanh niên. Với trí tuệ, nhiệt huyết, khát vọng cống hiến và khả năng thích ứng nhanh với thời đại mới, thanh niên Việt Nam hôm nay chính là lực lượng quan trọng góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, phát triển và hạnh phúc trong thế kỷ XXI.
5. Phát huy giá trị trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
Hơn nửa thế kỷ sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa, tư tưởng của Người vẫn giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp và khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; quá trình toàn cầu hóa, chuyển đổi số và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, việc tiếp tục vận dụng và phát huy giá trị trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với con đường phát triển của dân tộc Việt Nam.
Giá trị trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết thể hiện ở tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong mọi hoàn cảnh, Người luôn nhấn mạnh tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết. Bối cảnh hiện nay đặt ra yêu cầu phải tiếp tục kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng trên cơ sở giữ vững bản lĩnh chính trị, bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc và giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam.
Bên cạnh đó, tư tưởng "lấy dân làm gốc" của Hồ Chí Minh tiếp tục là nền tảng quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Người từng khẳng định: "Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đếndân, ta phải hết sức tránh"[11]. Quan điểm ấy đến nay vẫn mang giá trị định hướng sâu sắc trong hoạch định và thực thi chính sách phát triển. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước đều phải hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội và phát triển con người toàn diện.
Trong giai đoạn hiện nay, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không chỉ là yêu cầu chính trị mà còn là động lực tinh thần quan trọng để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước. Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định nhiệm vụ phát huy mạnh mẽ giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Khát vọng ấy có sự kế thừa sâu sắc từ tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một nước Việt Nam "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn", nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc.
Văn kiện Đại hội XIV nhất quán quan điểm chỉ đạo: "Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng"[12].Quan điểm ấy đã minh chứng sâu sắc rằng tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn luôn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, đồng thời khẳng định sự kiên định của Đảng trong việc kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo những giá trị trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Đối với thế hệ trẻ, việc phát huy giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh càng có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Thanh niên cần không ngừng học tập, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao tri thức, năng lực đổi mới sáng tạo và tinh thần cống hiến vì cộng đồng. Đồng thời, cần chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; lan tỏa những giá trị tích cực trên không gian mạng và trong đời sống xã hội. Đó không chỉ là trách nhiệm của tuổi trẻ mà còn là cách thiết thực để tiếp nối lý tưởng và khát vọng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi gắm cho các thế hệ mai sau.
Kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là dịp tri ân vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc mà còn là cơ hội để mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam nhận thức sâu sắc hơn giá trị trường tồn trong tư tưởng của Người. Từ khát vọng giành độc lập dân tộc đến khát vọng xây dựng một đất nước phồn vinh, hạnh phúc là hành trình tư tưởng mang tầm vóc thời đại, tiếp tục soi đường cho dân tộc Việt Nam trên con đường phát triển trong thế kỷ XXI. Phát huy giá trị trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh vì vậy không chỉ là yêu cầu của hiện tại mà còn là bảo đảm vững chắc cho tương lai phát triển bền vững của đất nước và dân tộc Việt Nam.
Võ Quốc Đạt
Học viện Thanh Thiếu niên Việt Nam
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, Tập 12, tr.562.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, Tập 12, tr.563.
[3] V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1974, tập 02, tr. 3.
[4]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, Tập 4, tr. 187.
[5]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, Tập 4, tr. 64.
[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, Tập 10, tr. 453.
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, Tập 4, tr. 35.
[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, Tập 15, tr. 131.
[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, Tập 13, tr. 298.
[10] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, Tập 14, tr. 339.
[11] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, Tập 4, tr. 65.
[12] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tập I, tr. 372.