Tư tưởng về đoàn kết quân đội và nhân dân - di sản lý luận quan trọng về quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thứ năm, 08/01/2026 - 16:22

Tóm tắt: Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, chính Người đã có công lao vô cùng to lớn trong phát huy đoàn kết quân dân, đấu tranh giải phóng dân tộc, góp phần lập nên những chiến công vĩ đại trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Tư tưởng về đoàn kết quân và dân của Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Từ khoá: đoàn kết quân và dân; tư tưởng Hồ Chí Minh; quân đội nhân dân Việt Nam.

1. Mở đầu

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò, tầm quan trọng và nội dung đoàn kết quân đội và nhân dân hay đoàn kết quân và dân có giá trị và thực tiễn sâu sắc, là nền tảng, định hướng cơ bản cho Đảng, Nhà nước và quân đội nghiên cứu, vận dụng hiện nay. Đây là một trong những nội dung cơ bản trong hệ thống tư tưởng, quan điểm của Người về cách mạng Việt Nam. Tư tưởng đó được hình thành trên những cơ sở tư tưởng lý luận và thực tiễn. Tư tưởng của Người về đoàn kết quân và dân bao gồm những nội dung rất cơ bản về vị trí, vai trò, nội dung mối quan hệ đoàn kết quân và dân góp phần thực hiện thắng lợi đường lối cách mạng của Đảng trước đây và trong giai đoạn cách mạng mới.

2. Nội dung

2.1. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quân và dân

* Kế thừa truyền thống dân tộc Việt Nam về đoàn kết quân và dân

Suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam luôn phải đấu tranh chống lại những thế lực ngoại xâm hùng mạnh, lịch sử oai hùng đó để lại cho Nhân dân ta truyền thống chống giặc ngoại xâm với những tư tưởng quân sự hết sức độc đáo và đặc sắc. Trong đó có tư tưởng chiến tranh nhân dân, thực hiện chính sách "ngụ binh ư nông", tư tưởng "toàn dân đánh giặc", tổ tiên ta đã hình thành, phát triển nghệ thuật tổ chức lực lượng quân sự độc đáo gồm nhiều thứ quân, quan tâm xây dựng mối quan hệ đoàn kết giữa quân đội với Nhân dân, trên tinh thần "trăm họ đều là binh", đoàn kết cùng nhau chống giặc ngoại xâm. để từ đó hình thành nghệ thuật quân sự độc đáo "lấy ít địch nhiều", "lấy nhỏ thắng lớn", "đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo"...

Trong hoàn cảnh phải thường xuyên chống giặc ngoại xâm mạnh hơn chúng ta, quân đội các triều đại phong kiến ở Việt Nam từng bước được kiện toàn, chính quy hóa, thắt chặt tình đoàn kết quân và dân. Trong lịch sử, dân tộc ta đã giải quyết "việc binh" rất sáng tạo với quan điểm "Quân cốt tinh, không cốt nhiều". Song yếu tố quan trọng nhất là vai trò của con người, của quần chúng Nhân dân và mối quan hệ đoàn kết quân và dân... Từ đó bên cạnh những yếu tố tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội như tướng sĩ, vũ khí, trình độ kỹ chiến thuật,... ông cha ta đặc biệt coi trọng xây dựng đoàn kết chặt chẽ giữa quân đội với Nhân dân, "tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào".

* Tinh hoa quân sự thế giới về quan hệ đoàn kết quân và dân

Hành trình bôn ba tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã để tâm tìm tòi, nghiên cứu tiếp thu, lĩnh hội những thành tựu trong kho tàng văn hóa quân sự, chính trị của nhân loại. Một trong những giá trị văn hóa nhân loại mà Người tiếp thu có tư tưởng về xây dựng mối quan hệ đoàn kết quân và dân.

Người tiếp thu di sản quân sự phương Đông cổ đại. Năm 1943, Người biên dịch cuốn Phép dùng binh của ông Tôn Tử. Người viết một loạt bài đăng trên báo Cứu quốc, từ ngày 17 tháng 5 đến ngày 8 tháng 11 năm 1946. Quan điểm của Người tiếp thu rất khoa học, không vận dụng một cách giáo điều. Người thường sử dụng các mệnh đề cốt lõi đó là "Biết mình, biết người", "Thiên thời, địa lợi, nhân hòa", "Thế, lực, thời", nhấn mạnh "Ai được lòng dân,... - thì bên ấy thắng"[1]. Ngoài ra, Người còn biên dịch cuốn "Phép thuật làm tướng của Gia Cát Khổng Minh" thời Tam Quốc và Người đặt đầu đề mới là "Cách huấn luyện cán bộ quân sự của Khổng Minh". Trong tác phẩm này, Hồ Chí Minh cũng nhắc lại điều cần kíp của việc binh mà ông Khổng Minh từng nói: "Trước nhất cốt lấy lòng dân, thứ hai mới cốt lấy thành trì của địch"[2].

Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn tìm hiểu những vấn đề quân sự của cách mạng tư sản Pháp, của Công xã Pari và quân đội nước Pháp chống phát xít Đức. Người học tập kinh nghiệm quan trọng mà du kích Pháp rút ra, trong đó có vấn đề về sự cần thiết phải xây dựng mối đoàn kết giữa quân đội và Nhân dân. Người khẳng định: "Càng hoạt động thì càng được dân chúng ủng hộ. Càng được dân ủng hộ thì tranh đấu càng dễ thành công… Các chiến sĩ và nhân dân, Như cá với nước phải gần gụi nhau"[3], "Du kích muốn thắng phải có nhân dân ủng hộ"[4].

* Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quan hệ đoàn kết quân và dân

Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin tìm thấy "cái cần thiết" cho con đường giải phóng dân tộc Việt Nam. Trong mọi cuộc cách mạng xã hội, quần chúng nhân dân luôn giữ vai trò quyết định. C.Mác cho rằng: Chính con người làm ra lịch sử của mình, lịch sử là lịch sử của con người theo đuổi những mục đích của mình. Lịch sử đó không được tạo nên bởi những cá nhân riêng lẻ, mà phải do số đông thực hiện, đó là quần chúng Nhân dân. V.I.Lênin cũng khẳng định: "Cuộc cách mạng chỉ thực sự là một cuộc cách mạng khi nào hàng chục triệu người đồng lòng hăng hái nổi dậy"[5], "Toàn bộ lịch sử các cuộc chiến tranh giải phóng đều chỉ cho chúng ta thấy rằng khi các cuộc chiến tranh đó được đông đảo quần chúng tham gia một cách chủ động thì công cuộc giải phóng được thực hiện một cách nhanh chóng"[6]. Kế thừa lý luận và thực tiễn về quân sự chủ nghĩa Mác - Lênin về một dân tộc nhỏ để chiến thắng một dân tộc to, một quân đội yếu đương đầu thắng lợi với một quân đội mạnh để giành độc lập dân tộc thì nhất thiết không được giới hạn trong những phương thức tiến hành chiến tranh thông thường, mà phải khởi nghĩa quần chúng, chiến tranh cách mạng, chiến tranh du kích... Vì vậy, Người cho rằng, quân đội công - nông phải đoàn kết với Nhân dân, tạo sức mạnh to lớn chiến thắng kẻ thù xâm lược.

1.2. Cơ sở thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quân và dân

* Thực tiễn xây dựng quan hệ đoàn kết quân và dân của Hồng quân Liên Xô

Đến Liên Xô, Người có điều kiện nghiên cứu về Hồng quân Xô Viết. Hồ Chí Minh thấy rằng: V.I.Lênin và Đảng Bôn - sê - vích đã đặc biệt quan tâm đến xây dựng đoàn kết quân dân nhất trí: "Các tướng lĩnh và binh sĩ Hồng quân đều là những con em của những lớp thợ thuyền, dân cày và trí thức... quân đội với nhân dân cũng như anh em một nhà"[7], "Các dân tộc trong Liên Xô đều bình đẳng. Riêng trong quân đội và giữa quân đội với nhân dân đều có tinh thần đoàn kết, nhất trí"[8], chính điểm đặc biệt này mà cách mạng đứng vững và thành công. Người nhấn mạnh: "Quân và dân hợp tác triệt để là một đặc điểm thứ nhất trong quân đội của Liên Xô"[9].

* Thực tiễn xây dựng quan hệ đoàn kết quân và dân của Hồng quân Trung Quốc

Đến Trung Quốc, Hồ Chí Minh cũng chú ý tìm hiểu Hồng quân Trung Quốc, nhất là về cách thức xây dựng mối quan hệ đoàn kết giữa quân đội với quần chúng nhân dân, mà như Người nói: "Chưa bao giờ nhân dân và quân đội Trung Quốc lại đoàn kết và kiên quyết như ngày nay để đánh tan giặc ngoại xâm! Những sự tàn bạo của bọn Nhật sẽ được đáp lại một cách đích đáng bằng chủ nghĩa anh hùng vô song của những người Trung Hoa đang chiến đấu cho nền độc lập và sinh mệnh của mình"[10].

2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quân và dân

* Hồ Chí Minh nhấn mạnh vị trí, vai trò đặc biệt của đoàn kết quân và dân

Trong quá trình rèn luyện xây dựng, phát triển quân đội cách mạng, Hồ Chí Minh luôn khẳng định mối quan hệ đoàn kết quân và dân có vị trí, vai trò quan trọng có ý nghĩa chiến lược, mang giá trị sống còn trong sự tồn tại chiến đấu và chiến thắng của quân đội. Quân đội ta do Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện, là đội quân kiểu mới, vừa được tổ chức theo nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin, vừa mang tính dân tộc, tính Nhân dân sâu sắc, mà biểu hiện sâu sắc nhất là quân đội từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu. Người nhấn mạnh: "Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công"[11]. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của quân đội là phải xây dựng, củng cố tốt mối quan hệ đoàn kết quân và dân - cơ sở của sự trưởng thành, lớn mạnh, phát triển và mọi thắng lợi của quân đội.

* Hồ Chí Minh nhấn mạnh mối quan hệ gắn bó "máu thịt" giữa quân và dân

Nhân dân là cha mẹ, nguồn sức mạnh vô địch của quân đội: Trong tư tưởng Hồ Chí Minh thì Nhân dân là nền tảng sức mạnh của quân đội. Theo Người, mối quan hệ đoàn kết quân và dân là mối quan hệ đặc biệt, trong đó "nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội"[12]. Ngay trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Hồ Chí Minh nêu rõ: "Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân"[13].

Quân đội cách mạng phải "hiếu với nhân dân": Tiếp thu tư tưởng của Nho giáo không chỉ ở xây dựng đạo đức mới, đạo đức cách mạng mà còn trong hoạt động quân sự. Trong các dịp nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ toàn quân, Người luôn nhắc nhở quân đội ta là quân đội nhân dân, quân đội phải "hiếu với dân". Người căn dặn quân đội: "Quân đội ta là quân đội nhân dân. Nghĩa là con em ruột thịt của Nhân dân. Đánh giặc để tranh lại độc lập thống nhất cho Tổ quốc, để bảo vệ tự do hạnh phúc của Nhân dân. Ngoài lợi ích của Nhân dân, quân đội ta không có lợi ích nào khác"[14]. Vì vậy, Người thường xuyên quan tâm giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ toàn quân và nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ: Nhân dân là nền tảng, là gốc rễ sinh ra quân đội. Quân đội muốn phát triển, lớn mạnh và chiến thắng, thì phải dựa trên "cái gốc","cái nền" vững chãi ấy: "Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân"[15].

Quân đội cách mạng phải biết tôn trọng dân: Hồ Chí Minh chỉ rõ: Phải tận trung với Đảng, tận hiếu với dân. Đã là người cán bộ quân đội, ng­ười quân nhân cách mạng thì dù ở cư­ơng vị, chức trách nào cũng phải là "ngư­ời đầy tớ trung thành" của Nhân dân. Vì vậy, Hồ Chí Minh đòi hỏi ở mỗi cán bộ, chiến sĩ còn phải "biết trọng nhân dân"[16]. Bởi vì có thực sự tôn trọng Nhân dân thì Nhân dân mới gắn bó chặt chẽ với quân đội và quân đội mới tranh thủ đ­ược sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của Nhân dân. Trong th­ư gửi cán bộ và chiến sĩ tham gia Chiến dịch Tây Bắc, ngày 01/10/1952, Ng­ười nhắc nhở: "Tất cả các chú, cán bộ cũng như­ chiến sĩ, đều phải… thương dân, trọng dân và tốt với dân"[17].

Quân đội cách mạng phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu: Hồ Chí Minh luôn xác định, để tăng cường đoàn kết quân và dân, thì trách nhiệm của mọi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội là phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu và nhiệm vụ đánh giặc là vì dân, giúp nhân dân xây dựng cuộc sống mới, mang lại ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Muốn cho dân tin, dân phục, dân yêu thì bộ đội phải tích cực giúp dân, phải gần gũi và chăm lo bảo vệ Nhân dân. Người nhấn mạnh: "Bộ đội phải hết lòng giúp dân, tham gia củng cố hậu phương ta ngày càng vững mạnh"[18].

Quân đội cách mạng phải hết lòng, hết sức phục vụ Nhân dân: Hồ Chí Minh khẳng định: "Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân"[19]. Do vậy, quân đội phải hết lòng, hết sức phục vụ Nhân dân. Ng­ười chỉ rõ: "Phải giúp đỡ nhân dân, việc lớn, việc nhỏ đều tỏ ra yêu đồng bào thực sự"[20]. Đây mới là điều kiện đủ, là biểu hiện rõ ràng và thiết thực nhất ý thức "hết lòng hết sức phục vụ nhân dân", luôn "vì nhân dân quên mình", "vì nhân dân phục vụ" của cán bộ, chiến sĩ quân đội.

* Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải không ngừng tăng cường, củng cố vững chắc đoàn kết quân và dân

Xây dựng đoàn kết quân và dân đó là việc làm thường xuyên. Quân đội ta từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu hy sinh, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, nhờ đó, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố tiên quyết góp phần quan trọng quyết định tới việc xây dựng, củng cố mối đoàn kết quân và dân. Để thắt chặt khối đoàn kết quân và dân, Hồ Chí Minh còn đòi hỏi phải thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân về vai trò, vị trí, tầm quan trọng, nội dung của mối đoàn kết quân và dân trong sự phát triển, trưởng thành và chiến thắng của quân đội ta.

3. Kết luận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quân và dân có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn, là cơ sở, nền tảng để Đảng ta vận dụng trong tình hình mới. Trong kỷ nguyên phát triển của dân tộc hiện nay, việc quán triệt, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quân và dân càng có ý nghĩa cấp thiết nhằm xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay "phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân… cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại"[21];, là lực lượng tin cậy tuyệt đối của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.

ThS Phạm Đức Dũng, Trương Thị Lan Anh

Học viện Kỹ thuật quân sự/ Bộ Quốc phòng

[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.559.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.580.

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.406.

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.418.

[5] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 36, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr.613.

[6] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 36, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr.30.

[7] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.253.

[8] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.253.

[9] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.253-254.

[10] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.125.

[11] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.234.

[12] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.485.

[13] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.539.

[14] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.334.

[15] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.502.

[16] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.458.

[17] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.501.

[18] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.568.

[19] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 14, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.435.

[20] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 14, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.271.

[21] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr.157-158.