logo
ISSN 2734-9020

Vai trò lãnh đạo của Tỉnh ủy Tuyên Quang trong bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số: Nguồn lực nội sinh cho phát triển bền vững

Thứ tư, 09/09/2026 - 12:00

Trong cấu trúc phát triển của một tỉnh miền núi, biên giới và đa dân tộc như Tuyên Quang, văn hóa các dân tộc thiểu số không chỉ là di sản cần bảo vệ mà còn là nguồn lực nội sinh có khả năng tạo sinh kế, củng cố đồng thuận xã hội, nâng cao sức hấp dẫn của điểm đến và bồi đắp sức mạnh cộng đồng.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Bài viết phân tích vai trò lãnh đạo của Tỉnh ủy Tuyên Quang trong chuyển hóa quan điểm của Đảng về phát triển văn hóa thành chương trình, nghị quyết, cơ chế hỗ trợ và nhiệm vụ cụ thể; đồng thời nhận diện những kết quả bước đầu, các điểm nghẽn trong truyền dạy, thương mại hóa, số hóa và phân phối lợi ích. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng lấy cộng đồng làm chủ thể, lấy khả năng truyền tiếp di sản và phần giá trị ở lại địa phương làm thước đo, gắn bảo tồn với sinh kế bền vững và quản trị dữ liệu văn hóa có trách nhiệm.

Từ khóa: Tỉnh ủy Tuyên Quang; dân tộc thiểu số; bản sắc văn hóa; nguồn lực nội sinh; phát triển bền vững.

1. Khi di sản không còn nằm yên trong "tủ kính"

Trong một thời gian dài, nói đến bảo tồn văn hóa thường gợi đến những thao tác quen thuộc: kiểm kê, sưu tầm, phục dựng, trưng bày, ghi âm, ghi hình,... Những việc đó cần thiết, nhưng nếu bảo tồn chỉ dừng ở việc giữ lại hình thức của di sản thì văn hóa rất dễ trở thành một "tủ kính": được nhìn thấy, được giới thiệu, thậm chí được ca ngợi, nhưng ngày càng xa đời sống của chính cộng đồng đã sáng tạo và trao truyền nó. Câu hỏi khó hơn đối với quản trị văn hóa hôm nay là làm thế nào để di sản tiếp tục sống trong đời sống đương đại; người dân không chỉ xuất hiện như người trình diễn cho du khách, mà thực sự là chủ thể quyết định, chủ thể hưởng lợi và chủ thể truyền tiếp giá trị cho thế hệ sau.

Đặt câu hỏi ấy trong bối cảnh Tuyên Quang hiện nay có ý nghĩa đặc biệt. Sau sắp xếp địa giới hành chính, tỉnh có dân số hơn 1,8 triệu người thuộc 46 dân tộc; đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 73%; 123/124 xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó có 87 xã đặc biệt khó khăn1.

Quy mô và cấu trúc dân cư ấy cho thấy văn hóa các dân tộc thiểu số không phải một "mảng" nằm bên lề của đời sống xã hội, mà là bộ phận cấu thành căn bản của không gian phát triển tỉnh. Mỗi quyết sách về bảo tồn tiếng nói, chữ viết, lễ hội, kiến trúc, nghề thủ công, dân ca, dân vũ, nhạc cụ, tri thức dân gian hay không gian cư trú đều đồng thời tác động đến đời sống kinh tế, giáo dục, du lịch, an sinh, môi trường và năng lực tự tổ chức của cộng đồng.

Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị đặt phát triển văn hóa và con người trong vị trí nền tảng, động lực, trụ cột và hệ điều tiết đối với phát triển bền vững; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu khơi thông nguồn lực văn hóa, đưa văn hóa thấm sâu vào các lĩnh vực của đời sống2.

Vấn đề đối với một địa phương vì thế không còn là có "quan tâm" đến văn hóa hay không, mà là năng lực lãnh đạo để biến quan điểm đó thành thể chế, ngân sách, cơ chế phối hợp, chỉ tiêu có thể đo lường và, quan trọng nhất, thành thay đổi thực chất trong đời sống của người dân. Từ góc nhìn đó, vai trò của Tỉnh ủy Tuyên Quang cần được nhận diện ở năng lực định hướng tư duy phát triển, tổ chức thực thi, điều phối nguồn lực và thiết lập mối quan hệ đúng đắn giữa bảo tồn với phát triển.

2. Từ "bảo tồn" đến "nguồn lực nội sinh": chuyển biến trong tư duy lãnh đạo

Một chuyển biến có ý nghĩa phương pháp luận trong lãnh đạo văn hóa là đi từ tư duy bảo tồn mang tính phòng thủ sang tư duy phát triển dựa trên văn hóa. Ở cách tiếp cận thứ nhất, nhiệm vụ trung tâm thường là chống mai một, giữ nguyên dạng thức, phục dựng những thực hành đang suy giảm. Ở cách tiếp cận thứ hai, bảo tồn vẫn là nguyên tắc nền tảng nhưng mục tiêu rộng hơn: làm cho giá trị văn hóa trở thành năng lực phát triển của cộng đồng và địa phương. Sự thay đổi ấy không đồng nghĩa với thương mại hóa mọi di sản. Ngược lại, nó đòi hỏi phân biệt rõ đâu là giá trị có thể chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ; đâu là không gian thiêng, tri thức nhạy cảm hoặc thực hành cộng đồng cần được bảo vệ khỏi khai thác quá mức.

Trên phương diện thể chế chính trị, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đã ban hành Chương trình hành động số 60-CTr/TU ngày 27/5/2026 thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW. Chương trình xác định 61 nhiệm vụ cụ thể và hướng tới đưa văn hóa trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, nguồn lực nội sinh quan trọng, góp phần thúc đẩy tỉnh phát triển nhanh và bền vững. Ngày 28/5/2026, Ban Thường vụ Tỉnh ủy thành lập Ban Chỉ đạo triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW gồm 28 thành viên, do đồng chí Bí thư Tỉnh ủy trực tiếp làm Trưởng Ban Chỉ đạo3.

Đáng chú ý ở đây không chỉ là việc có một chương trình hành động hay một ban chỉ đạo, mà là logic lãnh đạo được thể hiện: đưa một nghị quyết chiến lược của Trung ương vào cấu trúc điều hành của địa phương, gắn trách nhiệm chính trị của người đứng đầu với tiến độ thực hiện. Đây là điều kiện quan trọng để văn hóa không bị tách thành lĩnh vực chuyên môn riêng của ngành văn hóa, mà trở thành nhiệm vụ liên ngành, liên cấp và gắn với mục tiêu phát triển chung.

Cùng với đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 89-NQ/TU ngày 12/5/2026 về xây dựng nếp sống văn minh trong Nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang và Nghị quyết số 92-NQ/TU ngày 13/5/2026 về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 20504,5.

Hai nghị quyết cho thấy văn hóa được đặt đồng thời trong hai quan hệ: văn hóa với chất lượng đời sống xã hội và văn hóa với động lực kinh tế. Nếu chỉ nhấn mạnh vế thứ hai, nguy cơ thương mại hóa và "sân khấu hóa" bản sắc là có thật. Nếu chỉ nhấn mạnh vế thứ nhất, văn hóa có thể thiếu nguồn lực để tự tái tạo trong điều kiện kinh tế thị trường. Bài toán lãnh đạo vì vậy là tạo thế cân bằng: phát triển thị trường văn hóa và du lịch nhưng không làm suy giảm quyền làm chủ văn hóa của cộng đồng.

3. Lãnh đạo bằng thể chế và nguồn lực: đưa chủ trương đi vào đời sống

Một chủ trương chỉ có sức sống khi được chuyển hóa thành cơ chế thực thi. Ở phương diện này, năm 2026 đánh dấu bước cụ thể hóa tương đối đồng bộ giữa định hướng của Tỉnh ủy, nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) và tổ chức thực hiện của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh. Sự liên thông đó tạo ra "đường đi" của chính sách từ nghị quyết đến nguồn lực cụ thể cho hộ gia đình, cộng đồng, hợp tác xã, doanh nghiệp và các khu, điểm du lịch.

Nghị quyết số 23/2026/NQ-HĐND ngày 27/5/2026 quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển du lịch giai đoạn 2026-2030 với 13 nhóm chính sách. Trong số đó có các mức hỗ trợ trực tiếp gắn với bảo tồn bản sắc và xây dựng sản phẩm du lịch: 100 triệu đồng cho một mái nhà lợp ngói âm dương theo kiến trúc truyền thống; 100 triệu đồng cho homestay xây dựng mới và 40 triệu đồng cho trường hợp sửa chữa; 70 triệu đồng cho một đội văn nghệ dân tộc; 300 triệu đồng cho hệ thống đường dạo bộ; 250 triệu đồng cho hệ thống chiếu sáng bằng năng lượng tự nhiên và chỉnh trang cảnh quan; 300 triệu đồng cho hệ thống thu gom rác thải; 150 triệu đồng cho nhà vệ sinh công cộng; cùng các mức hỗ trợ khác cho điểm dừng chân, phương tiện vận chuyển khách và phát triển sản phẩm du lịch6.

Giá trị đáng chú ý của cơ chế này nằm ở chỗ nguồn lực công được thiết kế để tác động trực tiếp vào những mắt xích mà cộng đồng thường khó tự đầu tư: kiến trúc truyền thống, cơ sở lưu trú, đội văn nghệ, hạ tầng môi trường và không gian trải nghiệm. Đặc biệt, các điều kiện hỗ trợ yêu cầu công trình và hoạt động phải gắn với kiến trúc, cảnh quan, bản sắc văn hóa địa phương và có cam kết duy trì trong thời gian tối thiểu. Cách thiết kế này tạo cơ sở để chuyển từ hỗ trợ theo phong trào sang hỗ trợ có điều kiện, dù hiệu quả cuối cùng vẫn phụ thuộc vào giám sát chất lượng và mức độ tham gia thực chất của cộng đồng.

Ngày 30/6/2026, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1700/QĐ-UBND về Đề án bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc trên địa bàn tỉnh gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035. Đề án đặt ra các mục tiêu đến năm 2030: hoàn thành kiểm kê di sản văn hóa vật thể và phi vật thể; lập 10 hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể đề nghị đưa vào Danh mục quốc gia; số hóa 100% di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và 70% di sản văn hóa phi vật thể trong danh mục kiểm kê; mở ít nhất 5 lớp tập huấn, truyền dạy; phục dựng ít nhất 5 lễ hội truyền thống gắn với phát triển du lịch; xây dựng 2-3 làng văn hóa du lịch cộng đồng đạt tiêu chuẩn ASEAN7.

Những chỉ tiêu trên cho thấy một cấu trúc chính sách khá đầy đủ: kiểm kê để biết mình đang có gì; lập hồ sơ để nâng mức độ bảo vệ; số hóa để tạo dữ liệu; truyền dạy để bảo đảm tính kế tục; phục dựng lễ hội để phục hồi thực hành; xây dựng làng văn hóa du lịch để chuyển giá trị thành sản phẩm phát triển. Tuy nhiên, chính sự đầy đủ ấy đặt ra yêu cầu cao hơn về phương thức lãnh đạo: không chỉ kiểm tra xem nhiệm vụ đã "hoàn thành" hay chưa, mà phải đánh giá chất lượng của kết quả và tác động đối với chủ thể văn hóa.

Ở cấp quốc gia, Nghị định số 269/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số, tạo thêm khung pháp lý để địa phương triển khai các nhiệm vụ bảo tồn, phát huy và hỗ trợ cộng đồng8.

Trong bối cảnh đó, vai trò lãnh đạo của Tỉnh ủy thể hiện rõ ở khả năng chủ động cụ thể hóa nhanh chủ trương của Trung ương và kết nối với hệ thống chính sách của địa phương. Đây là điều kiện cần để tránh tình trạng nghị quyết đúng nhưng chậm đi vào cuộc sống.

4. Cộng đồng phải là chủ thể: từ "được bảo tồn" đến "tự bảo tồn"

Bản sắc văn hóa không tồn tại độc lập với con người. Một làn điệu chỉ thực sự sống khi còn người hát và người nghe hiểu; một nghi lễ chỉ sống khi cộng đồng còn nhu cầu thực hành; một ngôi nhà truyền thống chỉ có ý nghĩa khi không gian cư trú và quan hệ xã hội bên trong nó chưa bị rỗng hóa. Vì thế, thước đo sâu nhất của bảo tồn không phải số hiện vật được lưu giữ hay số cuộc biểu diễn được tổ chức, mà là năng lực tự tái tạo văn hóa của cộng đồng.

Từ góc độ quản trị, điều đó đòi hỏi chuyển trọng tâm từ "làm thay cộng đồng" sang "tạo năng lực cho cộng đồng". Nhà nước có thể đầu tư địa điểm, thiết bị, hỗ trợ kinh phí, xây dựng hồ sơ khoa học và kết nối thị trường, nhưng không thể thay cộng đồng quyết định ý nghĩa của thực hành văn hóa. Nghệ nhân, người cao tuổi, trưởng dòng họ, phụ nữ, thanh niên và những người trực tiếp hành nghề phải có tiếng nói trong việc lựa chọn yếu tố nào được truyền dạy, yếu tố nào được giới thiệu ra bên ngoài, mức độ nào được phép sân khấu hóa hoặc số hóa.

Đây cũng là điểm mà vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng ở cơ sở trở nên quan trọng. Khi chi bộ, cấp ủy và chính quyền cơ sở hiểu đúng văn hóa như một nguồn lực sống, họ có thể tạo không gian để người có uy tín và người thực hành di sản tham gia quản trị; có thể đưa nhiệm vụ truyền dạy vào sinh hoạt cộng đồng; kết nối trường học với nghệ nhân; tổ chức hoạt động văn hóa theo chu kỳ sống thực của cộng đồng thay vì chỉ theo lịch sự kiện. Ngược lại, nếu thực hiện theo tư duy chỉ tiêu, rất dễ xuất hiện những lớp truyền dạy đông người nhưng ít người tiếp tục thực hành, những đội văn nghệ hoạt động mạnh trong mùa lễ hội nhưng thiếu lớp kế cận, hoặc những sản phẩm lưu niệm mang họa tiết dân tộc nhưng tách khỏi tri thức bản địa.

Tuyên Quang hiện có nguồn tài nguyên văn hóa phong phú. Theo cơ quan chuyên môn của tỉnh, địa phương có gần 400 di sản văn hóa, 40 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và gần 100 lễ hội truyền thống9.

Những con số đó cho thấy tiềm năng lớn, nhưng cũng đặt ra thách thức về ưu tiên. Không một nguồn ngân sách nào có thể đầu tư ngang nhau cho hàng trăm di sản. Tỉnh cần phân nhóm theo mức độ cấp thiết: di sản có nguy cơ mai một cao; di sản còn sức sống cộng đồng mạnh; di sản có tiềm năng tạo sinh kế; di sản nhạy cảm cần bảo vệ khỏi thương mại hóa. Lãnh đạo hiệu quả là lựa chọn đúng phương thức đối với từng nhóm thay vì áp dụng một mô hình chung.

5. Khi văn hóa tạo sinh kế: từ tài nguyên bản sắc đến giá trị ở lại địa phương

Du lịch là một trong những kênh rõ nhất để văn hóa chuyển thành nguồn lực kinh tế. Năm 2025, Tuyên Quang đón gần 3,93 triệu lượt khách, trong đó hơn 546 nghìn lượt khách quốc tế; tổng thu từ du lịch vượt 10.633 tỷ đồng. Thời gian lưu trú trung bình khoảng 2,5 ngày đối với khách quốc tế và 1,8 ngày đối với khách nội địa. Trong 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh đón trên 2,09 triệu lượt khách, đạt khoảng 51% kế hoạch năm, tổng chi tiêu du lịch trên 5.000 tỷ đồng10.

Tăng trưởng lượt khách và doanh thu là chỉ báo tích cực, song chưa đủ để kết luận văn hóa đã trở thành nguồn lực nội sinh theo nghĩa đầy đủ. Điều cần được hỏi sâu hơn là: bao nhiêu giá trị kinh tế được giữ lại trong cộng đồng? Bao nhiêu hộ gia đình có thu nhập ổn định từ du lịch? Bao nhiêu nghề truyền thống được phục hồi vì có thị trường? Bao nhiêu thanh niên chọn ở lại hoặc quay về quê hương vì nhìn thấy cơ hội sinh kế gắn với văn hóa? Nếu phần lớn giá trị gia tăng rời khỏi cộng đồng thông qua các chuỗi dịch vụ bên ngoài, thì du lịch văn hóa có thể tăng trưởng mà năng lực nội sinh của cộng đồng vẫn không tăng tương ứng.

Trường hợp Lũng Cú cung cấp một lát cắt đáng chú ý. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2026, địa bàn này đón 329.345 lượt khách, gồm 243.525 lượt khách nội địa và 80.820 lượt khách quốc tế; khoảng 56.000 lượt khách lưu trú; có 85 cơ sở lưu trú với khoảng 515 phòng và 830 giường; doanh thu từ hoạt động du lịch ước trên 200 tỷ đồng11.

Từ số liệu công bố, tỷ lệ khách lưu trú tương đương khoảng 17% tổng lượt khách12. Con số này gợi ra một vấn đề quản trị quan trọng: điểm đến có thể rất đông khách nhưng nếu khách chỉ ghé ngắn, chi tiêu thấp và ít tham gia vào trải nghiệm văn hóa có chiều sâu thì hiệu quả kinh tế và hiệu quả bảo tồn đều bị giới hạn. Do đó, chiến lược phát triển không nên chỉ tập trung "tăng số lượt", mà cần kéo dài thời gian lưu trú, tăng chi tiêu tại chỗ và mở rộng số hộ tham gia chuỗi giá trị.

Một sản phẩm du lịch văn hóa bền vững không nhất thiết phải hoành tráng. Giá trị có thể nằm trong một bữa ăn sử dụng nông sản bản địa; một buổi nghe nghệ nhân kể chuyện về họa tiết trên trang phục; trải nghiệm làm nghề thủ công; đi bộ theo tuyến cảnh quan do người dân dẫn đường; hay ở lại trong một ngôi nhà truyền thống được cải tạo vừa đủ để bảo đảm tiện nghi nhưng không phá vỡ cấu trúc kiến trúc. Chính những sản phẩm quy mô nhỏ, do cộng đồng sở hữu và vận hành, thường có khả năng giữ giá trị ở địa phương tốt hơn.

Vì vậy, việc Nghị quyết số 23/2026/NQ-HĐND hỗ trợ trực tiếp cho mái nhà truyền thống, homestay, đội văn nghệ, đường dạo bộ, môi trường và sản phẩm du lịch là một hướng đi phù hợp. Nhưng để chính sách đạt mục tiêu văn hóa, điều kiện hỗ trợ cần được theo dõi bằng tiêu chí chất lượng: công trình có giữ được ngôn ngữ kiến trúc địa phương hay không; đội văn nghệ có duy trì truyền dạy cho lớp trẻ hay chỉ biểu diễn theo hợp đồng; homestay có sử dụng lao động và sản phẩm địa phương; cộng đồng có tham gia quyết định cách sử dụng hình ảnh, biểu tượng và câu chuyện văn hóa của mình.

6. Những điểm nghẽn cần nhận diện thẳng thắn

Từ góc độ đánh giá chính sách, thành công của một chủ trương không chỉ phụ thuộc vào tính hoàn thiện trên văn bản mà gắn liền với khả năng chuyển hóa trong đời sống thực tế. Nhìn nhận thẳng thắn vào các hạn chế hiện hữu cho thấy vẫn tồn tại những độ trễ và sự lệch pha nhất định giữa mục tiêu đề ra và kết quả vận hành tại cơ sở:

Thứ nhất, khoảng cách giữa chính sách và năng lực thực thi ở cơ sở. Các đề án, nghị quyết có thể thiết kế đúng và đầy đủ, nhưng địa bàn miền núi rộng, điều kiện hạ tầng và năng lực cán bộ không đồng đều khiến chất lượng thực hiện có nguy cơ phân hóa. Ở nơi cán bộ hiểu văn hóa và có khả năng tổ chức cộng đồng, nguồn lực nhỏ có thể tạo tác động lớn. Ở nơi thực hiện theo thủ tục, nguồn lực lớn vẫn có thể tạo ra công trình ít sử dụng hoặc hoạt động thiếu sức sống.

Thứ hai, đứt gãy truyền nối do biến đổi sinh kế và dịch chuyển lao động. Nhiều thực hành văn hóa đòi hỏi thời gian học lâu, môi trường sử dụng thường xuyên và mối quan hệ trực tiếp giữa người truyền dạy với người học. Trong khi đó, thanh niên có xu hướng học tập, làm việc xa nhà, nhịp sống thay đổi, tiếng phổ thông và truyền thông số lấn át không gian sử dụng tiếng mẹ đẻ. Vì thế, "mở lớp" chưa đồng nghĩa với "có người kế tục". Nếu chỉ thống kê số lớp, số học viên, số buổi biểu diễn mà không theo dõi số người tiếp tục thực hành sau một, ba hoặc năm năm, chính sách sẽ khó đo đúng hiệu quả.

Thứ ba, nguy cơ đồng dạng hóa và thương mại hóa trong du lịch cộng đồng. Khi mô hình homestay phát triển nhanh, những yếu tố dễ nhìn thấy như trang trí, trang phục, tiết mục biểu diễn có thể được sao chép giữa các điểm đến. Điều này làm giảm sự khác biệt vốn là tài sản lớn nhất của du lịch bản sắc. Một bản làng hấp dẫn không phải vì có nhiều "góc check-in" giống nhau, mà vì khách có thể nhận ra một cấu trúc văn hóa riêng: từ kiến trúc, tiếng nói, món ăn, nhịp lao động đến quy tắc ứng xử với thiên nhiên và cộng đồng.

Thứ tư, bài toán số hóa. Mục tiêu số hóa 100% di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và 70% di sản trong danh mục kiểm kê đến năm 2030 là tham vọng cần thiết. Tuy nhiên, số hóa không chỉ là biến tài liệu thành tệp tin. Cần giải quyết quyền truy cập, quyền sử dụng, bản quyền cộng đồng, mức độ công khai của tri thức thiêng hoặc nhạy cảm, tiêu chuẩn siêu dữ liệu và khả năng liên thông. Nếu không, cơ sở dữ liệu có thể đầy nhưng khó sử dụng, hoặc tệ hơn, mở đường cho khai thác thương mại các biểu tượng văn hóa mà cộng đồng không được hỏi ý kiến.

Thứ năm, nguy cơ đánh giá thành công chủ yếu bằng số lượng. Lượt khách, doanh thu, số sự kiện, số câu lạc bộ hay số hồ sơ di sản đều cần thiết, nhưng đó là chỉ số đầu ra. Đối với phát triển bền vững dựa trên văn hóa, cần thêm chỉ số kết quả: thu nhập bình quân của hộ tham gia; tỷ lệ doanh thu ở lại cộng đồng; số người trẻ có khả năng thực hành di sản; số nghệ nhân có người kế tục; mức độ sử dụng tiếng mẹ đẻ trong gia đình; mức độ hài lòng của cư dân đối với phát triển du lịch; sức chịu tải môi trường và văn hóa của điểm đến.

7. Đổi mới phương thức lãnh đạo để văn hóa thực sự trở thành nội lực phát triển

Nhận diện rõ các điểm nghẽn thực tiễn đòi hỏi phải có sự chuyển dịch căn bản trong tư duy và hành động của cấp ủy, chính quyền các cấp. Để giải phóng các nguồn lực và đưa văn hóa thực sự thẩm thấu vào quá trình phát triển bền vững, khâu đột phá trước hết nằm ở việc đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng thực chất, kiến tạo và phát triển năng lực nội tại:

Một là, chuyển trọng tâm kiểm tra từ "hoàn thành nhiệm vụ" sang "tạo ra năng lực". Đối với mỗi chương trình bảo tồn, cần thiết kế chuỗi chỉ số từ đầu vào đến tác động. Chẳng hạn, một lớp truyền dạy không chỉ báo cáo số học viên mà cần theo dõi sau 12 tháng có bao nhiêu người còn thực hành, bao nhiêu người có thể truyền dạy lại, bao nhiêu tiết mục hoặc sản phẩm được cộng đồng sử dụng trong đời sống. Một hỗ trợ homestay không chỉ nghiệm thu công trình mà cần theo dõi mức sử dụng vật liệu, kiến trúc bản địa, tỷ lệ lao động địa phương và doanh thu từ sản phẩm văn hóa của cộng đồng.

Hai là, coi "giá trị ở lại" là một thước đo phát triển. Cấp ủy có thể chỉ đạo ngành du lịch và chính quyền cơ sở xây dựng bộ chỉ báo gồm thời gian lưu trú, chi tiêu bình quân tại địa phương, tỷ lệ mua sản phẩm do người dân địa phương sản xuất, số hộ tham gia chuỗi cung ứng, tỷ lệ lao động tại chỗ, tỷ lệ doanh thu thuộc về cộng đồng. Cách đo này giúp tránh nghịch lý điểm đến đông khách nhưng cư dân hưởng lợi ít.

Ba là, gắn mọi hỗ trợ về khai thác văn hóa với cam kết bảo tồn tính xác thực. Cơ chế hỗ trợ đã có điều kiện duy trì; bước tiếp theo là lượng hóa tiêu chí bảo tồn. Với nhà truyền thống, cần có hướng dẫn kiến trúc theo từng tộc người và từng vùng. Với đội văn nghệ, cần khuyến khích tiết mục do nghệ nhân và cộng đồng xác nhận, đồng thời có kế hoạch đào tạo người kế cận. Với sản phẩm thủ công, cần ghi nhận nguồn gốc họa tiết, kỹ thuật và tên cộng đồng sáng tạo, hạn chế việc sử dụng biểu tượng tùy tiện.

Bốn là, xây dựng chính sách truyền nối phù hợp với dịch chuyển lao động. Không nên giả định người trẻ phải ở lại làng mới có thể kế tục văn hóa. Có thể tổ chức các đợt học tập tập trung vào kỳ nghỉ, xây dựng nhóm học trực tuyến do nghệ nhân hướng dẫn, tạo học liệu song ngữ, khuyến khích người đi làm xa tham gia các mạng lưới văn hóa đồng hương. Khi trở về vào dịp lễ, họ có thể trở thành cầu nối giữa truyền thống và kỹ năng mới về truyền thông, thiết kế, kinh doanh, ngoại ngữ.

Năm là, thiết lập nguyên tắc quản trị dữ liệu văn hóa dựa trên quyền của cộng đồng. Mỗi dự án số hóa cần phân loại dữ liệu công khai, dữ liệu hạn chế và dữ liệu chỉ cộng đồng được truy cập; xác định ai có quyền cho phép sử dụng thương mại; cơ chế ghi công và chia sẻ lợi ích ra sao. Đây là điều kiện để số hóa không biến thành một hình thức "tách di sản khỏi chủ thể" trong môi trường số.

Sáu là, tăng cường cơ chế giám sát xã hội và đánh giá độc lập. Hằng năm, bên cạnh báo cáo hành chính, có thể tổ chức khảo sát độc lập tại một số điểm du lịch cộng đồng, lấy ý kiến người dân, nghệ nhân, hộ kinh doanh, khách du lịch và cán bộ cơ sở. Kết quả cần tập trung vào những câu hỏi khó: người dân có thấy mình được tham gia quyết định hay không; lợi ích có phân phối công bằng; giá cả và nhu cầu thị trường có làm biến đổi nghi lễ; môi trường có chịu áp lực; những giá trị nào đang mai một dù đã có dự án bảo tồn. Chính dữ liệu phản hồi này giúp cấp ủy điều chỉnh phương thức lãnh đạo kịp thời.

Bảy là, phát huy vai trò nêu gương và điều phối của người đứng đầu. Việc đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đứng đầu Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW tạo điều kiện để tháo gỡ các vấn đề liên ngành mà một sở chuyên môn khó tự xử lý. Giá trị của mô hình này sẽ được phát huy cao nhất khi các cuộc họp không chỉ nghe báo cáo tiến độ, mà tập trung xử lý điểm nghẽn về đất đai, đầu tư, môi trường, đào tạo nhân lực, bảo hộ tri thức và liên kết thị trường; đồng thời làm rõ trách nhiệm của từng cơ quan theo nguyên tắc rõ người, rõ việc, rõ thời gian và rõ sản phẩm.

Kết luận

Vai trò lãnh đạo của Tỉnh ủy Tuyên Quang trong bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số được thể hiện trước hết ở sự chuyển đổi cách nhìn: từ xem văn hóa chủ yếu là đối tượng cần gìn giữ sang xác định văn hóa là nền tảng và nguồn lực nội sinh của phát triển. Sự chuyển đổi đó đã được cụ thể hóa bằng Chương trình hành động số 60-CTr/TU, các nghị quyết chuyên đề, cơ chế hỗ trợ của HĐND và Đề án của UBND tỉnh với những mục tiêu, mức hỗ trợ và nhiệm vụ ngày càng cụ thể.

Kết quả bước đầu về tăng trưởng du lịch, mở rộng không gian sản phẩm và xây dựng cơ chế hỗ trợ cho thấy tiềm năng lớn của hướng đi này. Nhưng phát triển dựa trên văn hóa chỉ thực sự bền vững khi cộng đồng không bị biến thành "phông nền" của du lịch; khi nghệ nhân có người kế tục; khi người dân giữ quyền quyết định đối với di sản; khi sinh kế gắn với bản sắc đủ hấp dẫn để thế hệ trẻ tham gia; và khi một phần ngày càng lớn của giá trị kinh tế ở lại nơi di sản được sinh ra.

Vì vậy, thách thức của giai đoạn tới không chỉ là làm nhiều hơn, mà là lãnh đạo sâu hơn: đo đúng tác động, bảo vệ tính xác thực, quản trị dữ liệu có trách nhiệm, phân phối lợi ích công bằng và tạo năng lực tự bảo tồn cho cộng đồng. Khi đó, văn hóa không còn nằm yên trong "tủ kính", cũng không bị hòa tan trong thị trường. Nó trở thành một nguồn lực sống: nuôi dưỡng căn tính, tạo sinh kế, củng cố niềm tin, kết nối các thế hệ và đóng góp vào phát triển nhanh nhưng bền vững của Tuyên Quang./.

TS. Trần Toàn Trung

Viện Quyền con người, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Trung tá Bùi Thanh Giang

Viettel Tuyên Quang

TS. Hoàng Thị Lan Anh

Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Chú thích

1 Hoàng Hải (2026), "Đoàn công tác của Hội đồng Dân tộc làm việc với UBND tỉnh Tuyên Quang", Báo Đại biểu Nhân dân https://daibieunhandan.vn/doan-cong-tac-cua-hoi-dong-dan-toc-lam-viec-voi-ubnd-tinh-tuyen-quang-10422537.html, truy cập ngày 06/9/2026.

2 Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.

3 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (2026). Chương trình hành động số 60-CTr/TU ngày 27/5/2026 thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW.

4 Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang (2026), Nghị quyết số 89-NQ/TU ngày 12/5/2026 về xây dựng nếp sống văn minh trong Nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang.

5 Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang (2026), Nghị quyết số 92-NQ/TU ngày 13/5/2026 về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

6 Hội đồng Nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2026), Nghị quyết số 23/2026/NQ-HĐND ngày 27/5/2026 quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2026-2030.

7,9 Ủy ban Nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2026), Quyết định số 1700/QĐ-UBND ngày 30/6/2026 ban hành Đề án bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035.

8 Chính phủ (2026), Nghị định số 269/2026/NĐ-CP ngày 01/7/2026 quy định một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số, ban hành năm 2026.

10 Cổng Thông tin điện tử tỉnh Tuyên Quang (2026), "Đánh thức tiềm năng, tạo đà bứt phá cho du lịch Tuyên Quang" https://www.tuyenquang.gov.vn/vi/post/danh-thuc-tiem-nang-tao-da-but-pha-cho-du-lich-tuyen-quang?type=NEWS&id=222788, truy cập ngày 06/9/2026.

11 Cổng Thông tin điện tử tỉnh Tuyên Quang (2026), "Đánh thức 'mỏ vàng xanh', đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn" https://www.tuyenquang.gov.vn/vi/post/danh-thuc-mo-vang-xanh-dua-du-lich-tro-thanh-nganh-kinh-te-mui-nhon?type=NEWS&id=238011, truy cập ngày 06/9/2026.

12 Cổng Thông tin điện tử tỉnh Tuyên Quang (2026), "Nghị quyết số 23/2026/NQ-HĐND của HĐND tỉnh tiếp thêm động lực để Lũng Cú phát triển du lịch bền vững" https://www.tuyenquang.gov.vn/vi/post/nghi-quyet-so-232026nq-hdnd-cua-hdnd-tinh-tiep-them-dong-luc-de-lung-cu-phat-trien-du-lich-ben-vung?type=NEWS&id=252236, truy cập ngày 06/9/2026.