logo
ISSN 2734-9020

Vai trò tự học tập của học viên Hệ 3 tại điểm đào tạo khu vực phía Nam hiện nay

Thứ hai, 19/10/2026 - 14:33

Tự học tập giữ vai trò trực tiếp trong chuyển hóa tri thức được trang bị thành phẩm chất, năng lực của học viên Hệ 3, Học viện Chính trị. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu và đối chiếu yêu cầu đào tạo cán bộ chính trị, bài viết làm rõ nội hàm, vai trò, cơ sở lý luận, chính trị, pháp lý và đặc điểm tự học tại điểm đào tạo khu vực phía Nam; phân tích những tiền đề ban đầu và vấn đề đặt ra. Từ đó, đề xuất giải pháp kết hợp trách nhiệm cá nhân với hướng dẫn, quản lý và đánh giá theo năng lực, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.

Từ khóa: tự học tập; học viên Hệ 3; Học viện Chính trị; cán bộ chính trị; đào tạo phía Nam.

Mở đầu

Tự học tập là hoạt động thiết yếu của người cán bộ quân đội, nhất là cán bộ chính trị trước yêu cầu thường xuyên cập nhật lý luận, phát triển năng lực lãnh đạo và xử lý những vấn đề thực tiễn. Đối với học viên Hệ 3, Học viện Chính trị, chất lượng học tập không chỉ thể hiện ở kết quả kiểm tra, thi mà còn ở khả năng nhận thức vấn đề, lựa chọn phương pháp và tổ chức thực hiện nhiệm vụ trên cương vị công tác.

Ngày 11/8/2026, Học viện Chính trị khai giảng khóa 1 tại điểm đào tạo khu vực phía Nam, gồm 100 học viên đào tạo ngắn hạn chính ủy trung, lữ đoàn và 24 học viên hoàn thiện cán bộ chính trị cấp trung, sư đoàn, thời gian đào tạo 10 tháng và 79 học viên đào tạo Cao cấp lý luận chính trị [1]. Việc tổ chức đào tạo tại địa bàn mới đòi hỏi kết hợp chặt chẽ điều kiện bảo đảm với tính tích cực của người học.

Vấn đề cần làm rõ là tự học tập đóng góp như thế nào vào chất lượng đào tạo và bằng cách nào có thể phát huy vai trò đó phù hợp với học viên đã có trải nghiệm công tác. Trên cơ sở phân tích, tổng hợp tài liệu, bài viết tiếp cận tự học trong quan hệ giữa hoạt động cá nhân với giảng dạy, quản lý và thực tiễn đơn vị; từ đó đề xuất giải pháp vận dụng tại điểm đào tạo phía Nam.

1. Nội hàm và vai trò của tự học tập đối với học viên Hệ 3

Tự học tập của học viên Hệ 3 là quá trình người học tự giác xác định mục tiêu, tổ chức hoạt động nhận thức, lựa chọn phương pháp, tự kiểm tra và điều chỉnh việc học nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo cán bộ chính trị. Quá trình này diễn ra trước, trong và sau giờ lên lớp, thông qua đọc tài liệu, nghiên cứu vấn đề, trao đổi, thực hành và tổng kết kinh nghiệm. Dấu hiệu cốt lõi là người học thực sự huy động trí tuệ, ý chí và trách nhiệm của mình để chiếm lĩnh tri thức, hình thành phương pháp và phát triển năng lực.

Tự học có quan hệ chặt chẽ với tự nghiên cứu và tự rèn luyện. Tự nghiên cứu làm sâu sắc khả năng phát hiện, phân tích và giải quyết vấn đề; tự rèn luyện giúp duy trì kỷ luật, tính bền bỉ và thói quen làm việc khoa học. Học viên có thể tự học dưới sự hướng dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp của giảng viên, đồng thời học thông qua hợp tác với đồng chí, đồng đội. Vì vậy, đề cao tự học phải gắn với trách nhiệm tổ chức và hỗ trợ của nhà trường.

Trước hết, tự học giúp chuyển hóa kiến thức thành hiểu biết có hệ thống. Bài giảng cung cấp định hướng và những nội dung cơ bản; việc đọc lại, đối chiếu tài liệu, đặt câu hỏi và tự giải thích giúp học viên nắm bản chất, nhận rõ quan hệ giữa các luận điểm. Khi tự học có chất lượng, người học có cơ sở vận dụng kiến thức vào những tình huống khác với ví dụ đã được giảng. Đây là điều kiện khắc phục lối ghi nhớ máy móc và phụ thuộc vào đề cương có sẵn.

Tự học đồng thời phát triển tư duy lý luận và năng lực công tác. Với học viên đã trải qua thực tiễn đơn vị, việc đối chiếu kiến thức mới với kinh nghiệm giúp nhận diện cách làm còn phù hợp, những nhận thức cần bổ sung và vấn đề phải giải quyết khác trước. Khi phân tích một tình huống công tác đảng, công tác chính trị, người học phải xác định căn cứ, đánh giá điều kiện, dự kiến tác động và chịu trách nhiệm về phương án đề xuất. Qua đó, kinh nghiệm được nâng lên thành hiểu biết có luận cứ.

Tự học còn góp phần củng cố bản lĩnh chính trị, phẩm chất và phương pháp công tác. Nghiên cứu nghiêm túc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng giúp học viên có cơ sở khoa học để giải thích vấn đề, bảo vệ quan điểm đúng và nhận diện thông tin thiếu căn cứ. Tính trung thực trong trích dẫn, sự cầu thị trước góp ý và ý thức khắc phục thiếu hụt là những biểu hiện cụ thể của trách nhiệm học tập. Thói quen tự cập nhật được hình thành trong khóa học còn tạo nền tảng cho học tập suốt đời sau khi trở về đơn vị.

2. Cơ sở phát huy vai trò tự học tập

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, con người là chủ thể hoạt động nhận thức và thực tiễn, có khả năng tác động trở lại hoàn cảnh và phát triển bản thân. Trong Luận cương về Phoi-ơ-bắc, C. Mác khẳng định: "chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục" [2, Luận cương III]. Vận dụng vào đào tạo cán bộ, cần coi học viên là chủ thể tích cực của quá trình phát triển phẩm chất, năng lực; đồng thời yêu cầu người dạy thường xuyên bổ sung tri thức và đổi mới phương pháp. Điều kiện giáo dục chỉ phát huy hiệu quả thông qua hoạt động tự giác của người học.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Lấy tự học làm cốt" [3, tr. 312]. Theo đó, do thảo luận và chỉ đạo giúp vào. Luận điểm này xác lập quan hệ giữa nỗ lực cá nhân, trao đổi tập thể và sự hướng dẫn. Vận dụng vào Hệ 3, học viên phải chủ động chuẩn bị, suy nghĩ và kiểm chứng điều đã học; thảo luận giúp làm rõ vấn đề; giảng viên và cán bộ quản lý định hướng, hỗ trợ, điều chỉnh. Tổ chức tốt quan hệ đó sẽ tạo điều kiện để tự học có mục tiêu, có phương pháp và có phản hồi, tránh đồng nhất tự học với giao tài liệu rồi để học viên tự xoay xở.

Về cơ sở chính trị, Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị yêu cầu giáo dục, đào tạo bảo đảm "học đi đôi với hành", "lý thuyết gắn liền với thực tiễn", "nhà trường gắn liền với xã hội"; đồng thời định hướng thúc đẩy học tập suốt đời và ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo có kiểm soát [4]. Đối với đào tạo cán bộ chính trị, những định hướng này đặt ra yêu cầu gắn nội dung tự học với chức trách, tăng cơ hội thực hành và bồi dưỡng khả năng sử dụng công nghệ một cách có trách nhiệm.

Về cơ sở pháp lý, khoản 2 Điều 7 Luật Giáo dục, được hợp nhất tại Văn bản số 72/VBHN-VPQH ngày 25/3/2026, quy định phương pháp giáo dục phải "bồi dưỡng cho người học năng lực tự học và hợp tác" [5]. Đây là căn cứ để xác định phát triển năng lực tự học là nhiệm vụ của quá trình giáo dục, cần được thể hiện trong thiết kế hoạt động, hướng dẫn phương pháp và kiểm tra, đánh giá.

Trong Quân đội, Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW ngày 20/12/2022 xác lập định hướng đổi mới giáo dục, đào tạo đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới [6]. Nội dung được Tạp chí Quốc phòng toàn dân dẫn lại nhấn mạnh quan hệ giữa chất lượng đào tạo ở nhà trường với khả năng thực hiện nhiệm vụ của đơn vị [7]. Vận dụng tinh thần đó, tự học phải góp phần phát triển năng lực thực hành nghề nghiệp. Ở cấp Hệ, định hướng năm học 2026 - 2027 tiếp tục coi trọng chất lượng tự học, tự nghiên cứu của học viên, gắn với chuyển đổi số và quản lý kỷ luật [8].

3. Đặc điểm tự học tập tại điểm đào tạo khu vực phía Nam

Đặc điểm nổi bật của học viên là đã có trải nghiệm công tác và theo học những chương trình gắn với chức danh cán bộ chính trị. Kinh nghiệm đơn vị tạo nguồn chất liệu để hiểu bài, nêu tình huống và trao đổi phương án. Tuy nhiên, kinh nghiệm chỉ trở thành lợi thế học tập khi được xem xét bằng căn cứ lý luận và điều kiện cụ thể; cách làm từng có hiệu quả vẫn cần được kiểm chứng khi nhiệm vụ, tổ chức hoặc môi trường công tác thay đổi.

Yêu cầu đầu ra của các đối tượng đào tạo cũng đặt ra những trọng tâm tự học khác nhau. Người học cần lựa chọn vấn đề sát chức trách, mức độ kiến thức phải hoàn thiện và năng lực cần phát triển. Tổ chức tự học vì vậy phải bảo đảm yêu cầu chung của chương trình, đồng thời có nhiệm vụ phù hợp với từng nhóm và hỗ trợ cá nhân. Không thể dùng một khối lượng tài liệu, một cách hướng dẫn để đáp ứng mọi nhu cầu.

Thời gian khóa học có hạn, trong khi học viên vừa tiếp thu kiến thức, vừa thực hiện chế độ học tập, rèn luyện của nhà trường quân đội. Điều đó làm nổi bật yêu cầu lựa chọn trọng tâm và quản lý thời gian. Tự học phải được bố trí liên tục theo tiến trình học phần, gắn chuẩn bị bài với giải quyết những điểm chưa rõ và thực hành vận dụng, hạn chế dồn việc học vào thời điểm kiểm tra.

Vai trò tự học tập của học viên Hệ 3 tại điểm đào tạo khu vực phía Nam hiện nay  - Ảnh 1.

Điểm đào tạo phía Nam còn đặt ra yêu cầu phối hợp giữa Học viện, đơn vị quản lý học viên và các lực lượng bảo đảm tại địa bàn. Học liệu, thông tin hướng dẫn, nội dung cần giải đáp phải đến đúng đối tượng, đúng thời điểm. Môi trường số có thể mở rộng khả năng tiếp cận tri thức, nhưng đòi hỏi học viên biết kiểm tra nguồn, xác định giá trị tài liệu và tuân thủ quy định sử dụng thông tin. Đây là những điều kiện cần tính đến khi tổ chức tự học ở cơ sở mới.

 4. Đánh giá bước đầu và những yêu cầu đặt ra


Các thông tin công khai cho phép ghi nhận một số tiền đề tích cực. Tổng kết năm học 2025 - 2026, Hệ 3 được đánh giá đã quản lý chặt chẽ hoạt động học tập, rèn luyện và thực hiện khâu đột phá về trách nhiệm cán bộ, chất lượng tự học, tự rèn của học viên [8]. Đây là kinh nghiệm tổ chức có thể kế thừa khi triển khai nhiệm vụ ở phía Nam. Tại lễ khai giảng khóa đầu, lãnh đạo Học viện yêu cầu phát huy kinh nghiệm thực tiễn, nâng cao tính chủ động trong nghiên cứu và gắn kiến thức với nhiệm vụ công tác [1].

Từ những dữ kiện này, có thể nhận định bước đầu đã hình thành sự thống nhất về định hướng và trách nhiệm tổ chức tự học. Tuy vậy, kết quả chung của Hệ ở năm học trước không thể thay thế cho đánh giá riêng khóa học tại điểm đào tạo mới. Chất lượng tự học cần được xác định qua sản phẩm, mức độ tiến bộ và khả năng vận dụng của học viên. Việc khẳng định hiệu quả phải dựa trên minh chứng theo từng học phần và giai đoạn đào tạo.

Từ đặc điểm đối tượng và điều kiện tổ chức, có thể xác định những nguy cơ cần kiểm tra, phòng ngừa. Trước hết là khoảng cách giữa nhận thức về tầm quan trọng của tự học với việc duy trì hoạt động thực chất. Học viên có thể thực hiện đủ thời gian quy định nhưng chưa xác định rõ câu hỏi cần giải quyết, chưa tự kiểm tra mức độ hiểu bài. Nếu quản lý chỉ theo dõi sự có mặt, khối lượng ghi chép hoặc số lượt truy cập học liệu thì khó nhận diện đúng chất lượng học tập.

Một nguy cơ khác là thiên về kinh nghiệm sẵn có hoặc lệ thuộc tài liệu tóm tắt. Kinh nghiệm công tác có thể làm người học chủ quan trước kiến thức mới; tài liệu rút gọn có thể hỗ trợ ghi nhớ nhưng dễ che khuất lập luận và điều kiện vận dụng. Khi dùng công cụ số, việc tiếp nhận câu trả lời chưa kiểm chứng hoặc sao chép sản phẩm cũng làm suy giảm quá trình tự suy nghĩ. Đây là những khả năng cần được kiểm tra bằng quan sát, trao đổi và đánh giá sản phẩm, không mặc nhiên coi là hạn chế đã được xác nhận của toàn thể học viên.

Về nguyên nhân cần xem xét, phía người học là động cơ, thói quen, kỹ năng đọc và tự điều chỉnh; phía tổ chức là độ rõ của nhiệm vụ, tính kịp thời của phản hồi, khả năng tiếp cận học liệu và sự phù hợp của đánh giá. Nếu nhiệm vụ chưa gắn chức trách, học viên khó thấy ý nghĩa thực tiễn; nếu thiếu tiêu chí, người học khó biết mình tiến bộ ở đâu. Do đó, khắc phục hạn chế phải đồng thời tác động vào phương pháp cá nhân và cách tổ chức đào tạo.

Những yêu cầu hiện nay là gắn tự học với năng lực đầu ra; phát huy kinh nghiệm nhưng khắc phục chủ quan; kết hợp tự giác với hướng dẫn và kỷ luật; khai thác công nghệ gắn kiểm chứng, bảo mật. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế phản hồi giữa học viên, giảng viên và cán bộ quản lý, lấy tiến bộ thực chất làm căn cứ điều chỉnh. Đây là cơ sở lựa chọn giải pháp có thể thực hiện và kiểm tra được.

Vai trò tự học tập của học viên Hệ 3 tại điểm đào tạo khu vực phía Nam hiện nay  - Ảnh 2.

"Tự học tập trên cơ sở định hướng của người Thầy TS Vũ Văn Long".

5. Giải pháp phát huy vai trò tự học tập của học viên Hệ 3 Một là, nâng cao nhận thức và cụ thể hóa trách nhiệm của các chủ thể.

Cấp ủy, chỉ huy Hệ cần đưa yêu cầu nâng cao chất lượng tự học vào lãnh đạo, chỉ đạo và kế hoạch công tác, xác định rõ trách nhiệm phối hợp với cơ quan đào tạo, khoa giáo viên. Giáo dục động cơ học tập phải gắn với yêu cầu hoàn thành chức trách sau đào tạo, giúp học viên tự thấy những kiến thức, kỹ năng còn thiếu. Cán bộ quản lý cần nêu gương về tinh thần học hỏi, tôn trọng trao đổi có căn cứ và kịp thời hỗ trợ học viên gặp khó khăn.

Mỗi học viên cần xây dựng kế hoạch tự học cá nhân theo học phần, xác định mục tiêu, nội dung trọng tâm, thời gian và sản phẩm dự kiến. Kế hoạch phải có khả năng điều chỉnh sau phản hồi của giảng viên và tự đánh giá, tránh trở thành hồ sơ để kiểm tra hình thức. Cần kết hợp giáo dục trách nhiệm với động viên, biểu dương cách học hiệu quả; khắc phục tâm lý học đối phó, ngại nghiên cứu và đánh giá thành tích chỉ dựa trên biểu hiện bề ngoài.

Hai là, bồi dưỡng phương pháp tự học phù hợp với người đã có kinh nghiệm công tác.

Giảng viên cần hướng dẫn học viên bắt đầu từ vấn đề của bài học và yêu cầu vận dụng. Có thể tổ chức theo tiến trình: xác định câu hỏi; đọc, đối chiếu căn cứ; trình bày cách hiểu; vận dụng và tự kiểm tra. Khi đọc tài liệu, học viên cần phân biệt luận điểm, luận cứ và ví dụ; ghi rõ nguồn, trang, nội dung còn băn khoăn. Sau giờ học, cần tự diễn đạt lại bằng lập luận của mình, phát hiện chỗ chưa hiểu để trao đổi, bổ sung.

Với mỗi chủ đề, nên yêu cầu học viên lựa chọn một tình huống công tác phù hợp để phân tích. Chẳng hạn, khi nghiên cứu giáo dục chính trị, học viên có thể xây dựng phương án giúp một nhóm quân nhân hiểu đúng nhiệm vụ, nêu rõ căn cứ, đặc điểm đối tượng, nội dung và cách kiểm tra kết quả. Tình huống phải được chuẩn bị trong phạm vi thông tin được phép sử dụng. Qua đó, người học rèn khả năng chuyển từ trình bày kiến thức sang giải thích và đề xuất cách làm.

Ba là, gắn nhiệm vụ tự học với đổi mới giảng dạy và thảo luận.

Khoa giáo viên và giảng viên cần thiết kế nhiệm vụ tự học đồng bộ với mục tiêu, nội dung và cách đánh giá của học phần. Trước giờ lên lớp, giao câu hỏi định hướng cùng danh mục tài liệu cốt lõi; trong giờ học, tập trung làm rõ vấn đề khó, kiểm tra cách hiểu và tổ chức trao đổi; sau giờ học, giao nhiệm vụ vận dụng có yêu cầu sản phẩm. Khối lượng phải phù hợp quỹ thời gian, tránh nhiều nhiệm vụ trùng lặp giữa các môn.

Thảo luận cần tạo cơ hội để từng học viên trình bày luận cứ, trả lời chất vấn và điều chỉnh phương án. Có thể phân công luân phiên vai trò trình bày, phản biện và tổng hợp, nhưng mỗi người phải chuẩn bị trước. Giảng viên kết luận những nội dung đã thống nhất, chỉ rõ vấn đề còn phải nghiên cứu. Kết quả học nhóm cần được kiểm tra bằng phần giải thích riêng của từng học viên, bảo đảm hợp tác hỗ trợ sự phát triển cá nhân.

Bốn là, bảo đảm học liệu và điều kiện tự học đồng bộ với quản lý tại điểm đào tạo.

Cơ quan chức năng, khoa giáo viên và Hệ cần phối hợp rà soát tài liệu theo chương trình, xác định bản đang sử dụng, nội dung cập nhật và phạm vi khai thác. Ưu tiên học liệu phục vụ trực tiếp bài học, văn kiện chính thống và tình huống phù hợp đối tượng; bố trí đầu mối tiếp nhận câu hỏi, phản hồi vướng mắc. Đơn vị quản lý bảo đảm thời gian, không gian tự học, phát hiện kịp thời khó khăn về điều kiện và phương pháp để phối hợp hỗ trợ.

Việc ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo cần hướng vào tìm kiếm tài liệu công khai, gợi ý câu hỏi và hỗ trợ hệ thống hóa kiến thức trên nền tảng được phép. Học viên phải đối chiếu kết quả với nguồn gốc, tự chịu trách nhiệm về lập luận và thông tin sử dụng; thực hiện yêu cầu công khai mức độ hỗ trợ của công cụ khi được quy định. Không đưa thông tin thuộc phạm vi bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật quân sự lên dịch vụ bên ngoài. Hiệu quả công nghệ phải được xem xét qua chất lượng học tập và khả năng làm chủ tri thức.

Năm là, đổi mới kiểm tra và đánh giá bằng minh chứng về năng lực.

Đánh giá tự học cần kết hợp việc chấp hành kế hoạch với chất lượng sản phẩm và sự tiến bộ. Tùy học phần, có thể sử dụng đề cương phân tích, bài viết ngắn, phần trình bày tình huống hoặc vấn đáp. Tiêu chí cần làm rõ mức độ hiểu bản chất, độ tin cậy của căn cứ, tính hợp lý của phương án và khả năng tự giải thích. Giảng viên công bố yêu cầu trước khi giao nhiệm vụ, phản hồi cụ thể để học viên sửa chữa.

Hệ phối hợp với giảng viên theo dõi một số biểu hiện thiết thực: chuẩn bị bài đúng yêu cầu, nêu được câu hỏi có chất lượng, giải thích được nội dung đã viết và khắc phục được hạn chế qua các lần góp ý. Không đồng nhất điểm số, thời gian ngồi học hay mức độ sử dụng phần mềm với toàn bộ năng lực tự học. Kết quả đánh giá phải giúp xác định nội dung cần hỗ trợ, điều chỉnh nhiệm vụ và phương pháp; việc chấm điểm, tính trọng số thực hiện theo quy chế đào tạo được phê duyệt.

Sáu là, duy trì môi trường học tập hợp tác và tổng kết để cải tiến.

Cần phát huy vai trò của tập thể lớp trong trao đổi phương pháp, chia sẻ tài liệu được phép và hỗ trợ đồng đội. Học viên có thế mạnh về một lĩnh vực có thể giới thiệu kinh nghiệm, song nội dung phải được đối chiếu với kiến thức và yêu cầu của học phần. Sinh hoạt rút kinh nghiệm nên tập trung vào khó khăn cụ thể, cách giải quyết và kết quả sau điều chỉnh; hạn chế báo cáo chung chung hoặc chỉ nêu thành tích.

Quá trình triển khai có thể bắt đầu ở một số học phần với nhiệm vụ, tiêu chí và đầu mối phối hợp rõ ràng. Định kỳ, đơn vị tổng hợp sản phẩm học tập, phản hồi của giảng viên và ý kiến học viên để nhận diện nội dung có hiệu quả, vấn đề cần sửa. Sau khóa học, trong điều kiện cho phép, tiếp nhận phản hồi của đơn vị sử dụng cán bộ về khả năng vận dụng. Cách làm này giúp nối kết tự học trong nhà trường với yêu cầu thực hiện chức trách và duy trì học tập sau đào tạo.

Kết luận

Tự học tập giữ vai trò trực tiếp trong phát triển tri thức, tư duy, phẩm chất và năng lực công tác của học viên Hệ 3 tại điểm đào tạo khu vực phía Nam. Vai trò đó được phát huy khi nỗ lực cá nhân gắn với nhiệm vụ rõ ràng, phương pháp phù hợp, học liệu tin cậy, hướng dẫn kịp thời và đánh giá thực chất. Các giải pháp cần được triển khai thống nhất, có theo dõi và điều chỉnh theo từng đối tượng. Lấy khả năng hiểu đúng, vận dụng đúng và tiếp tục tự hoàn thiện làm thước đo sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ chính trị, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới.

Tài liệu tham khảo

[1]. Dương Văn Quang (2026), "Học viện Chính trị: Khai giảng đào tạo ngắn chính ủy trung, lữ đoàn và hoàn thiện cán bộ chính trị cấp trung, sư đoàn", Báo Quân đội nhân dân, ngày 11/8/2026.

[2]. C. Mác và Ph. Ăng-ghen (1995), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, "Luận cương về Phoi-ơ-bắc", Luận cương III.

[3]. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 312.

[4]. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Hà Nội.

[5]. Văn phòng Quốc hội (2026), Văn bản hợp nhất số 72/VBHN-VPQH ngày 25/3/2026 hợp nhất Luật Giáo dục, Hà Nội, khoản 2 Điều 7.

[6]. Quân ủy Trung ương (2022), Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW ngày 20/12/2022 về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới, Hà Nội.

[7]. Bùi Đức Thành (2024), "Quán triệt Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW, Học viện Phòng không - Không quân đổi mới công tác giáo dục và đào tạo", Tạp chí Quốc phòng toàn dân, ngày 15/7/2024.

[8]. Cao Mạnh Cường (2026), "Đảng ủy Hệ 3, Học viện Chính trị: Ra nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ năm học 2026 - 2027", Báo Quân khu 4, ngày 12/6/2026.


Thượng tá, ThS Nguyễn Trung Kiên

Chính trị viên Hệ 3, Học viện Chính trị