logo
ISSN 2734-9020

Vận dụng mô hình dạy học đồng kiến tạo tri thức giữa giảng viên và học viên nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trẻ tại trường chính trị tỉnh Lào Cai trong đào tạo trung cấp lý luận chính trị

Thứ tư, 10/06/2026 - 15:57

Trước yêu cầu đổi mới căn bản công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị và chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm về chuyển mạnh từ mô hình truyền thụ kiến thức một chiều sang mô hình giảng viên, học viên đồng kiến tạo tri thức mới, giá trị mới, bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của mô hình dạy học đồng kiến tạo tri thức, đánh giá thực trạng đội ngũ giảng viên trẻ tại Trường Chính trị tỉnh Lào Cai trong đào tạo trung cấp lý luận chính trị.

Từ đó đề xuất hệ giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao năng lực sư phạm, tư duy thiết kế và bản lĩnh dẫn dắt đối thoại của đội ngũ này, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ ở cơ sở trong bối cảnh mới.

Từ khóa: mô hình đồng kiến tạo tri thức; giảng viên trẻ; chất lượng đội ngũ; đào tạo trung cấp lý luận chính trị; Trường Chính trị tỉnh Lào Cai.

1. Đặt vấn đề

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở cơ sở đang đứng trước những đòi hỏi mới, xuất phát từ yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đã xác định rõ yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy quản lý giáo dục sang quản trị phát triển giáo dục, gắn đào tạo với chất lượng thực chất và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực. Tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026 của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu toàn hệ thống trường Đảng phải "chuyển mạnh từ mô hình truyền thụ kiến thức một chiều sang mô hình giảng viên, học viên đồng kiến tạo tri thức mới và giá trị mới; bảo đảm đào tạo không chỉ để biết mà để làm, hướng tới các giá trị công và lợi ích nhân dân"[1]. Đây là định hướng có tính chất bước ngoặt, đặt ra yêu cầu tái cấu trúc toàn diện quan hệ dạy và học trong hệ thống trường chính trị các tỉnh, thành phố, nơi trực tiếp đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở.

Trường Chính trị tỉnh Lào Cai với chức năng đào tạo trung cấp lý luận chính trị cho cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn một tỉnh miền núi, biên giới, nhiều thành phần dân tộc, giữ vai trò nền tảng trong công tác cán bộ ở cơ sở. Chất lượng đào tạo của nhà trường phụ thuộc trực tiếp vào năng lực và bản lĩnh sư phạm của đội ngũ giảng viên, trong đó giảng viên trẻ chiếm tỉ trọng ngày càng lớn và là lực lượng kế cận quan trọng. Tuy được đào tạo cơ bản, có khả năng tiếp cận nhanh với công nghệ và phương pháp dạy học hiện đại, giảng viên trẻ thường còn hạn chế về kinh nghiệm thực tiễn công tác ở cơ sở, kỹ năng tổ chức đối thoại, thiết kế tình huống và dẫn dắt quá trình phản tư của học viên, những năng lực cốt lõi mà mô hình đồng kiến tạo tri thức đòi hỏi. Trong khi đó, học viên trung cấp lý luận chính trị, hành chính phần lớn là cán bộ, công chức đã và đang công tác tại cơ sở, mang theo vốn kinh nghiệm thực tiễn phong phú, nếu không được khai thác đúng cách sẽ trở thành nguồn lực bị lãng phí trong quá trình dạy học.

Xuất phát từ thực tế đó, bài viết tập trung làm rõ ba nội dung: một là, hệ thống hóa cơ sở lý luận và yêu cầu chính trị đặt ra đối với mô hình dạy học đồng kiến tạo tri thức giữa giảng viên và học viên; hai là, phân tích thực trạng đội ngũ giảng viên trẻ và việc vận dụng mô hình này trong đào tạo trung cấp lý luận chính trị tại Trường Chính trị tỉnh Lào Cai; ba là, đề xuất các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trẻ theo hướng tiếp cận hiện đại, phù hợp với đặc thù đào tạo cán bộ ở một tỉnh miền núi, biên giới.

2. Cơ sở lý luận và yêu cầu chính trị đặt ra đối với mô hình dạy học đồng kiến tạo tri thức giữa giảng viên và học viên

2.1. Bản chất mô hình dạy học đồng kiến tạo tri thức

Mô hình đồng kiến tạo tri thức đặt nền tảng trên sự chuyển đổi quan hệ tri thức trong lớp học, từ truyền đạt và tiếp nhận một chiều sang một quá trình tương tác, phản tư và chuyển hóa liên tục giữa lý luận, trải nghiệm, bối cảnh và giá trị. Tri thức không được xem là khối nội dung cố định để chuyển giao, mà nảy sinh trong chính kinh nghiệm thực tiễn của người học, được đối chiếu, chất vấn và "giải mã" bằng khung lý luận, chuẩn mực giá trị dưới sự dẫn dắt có kỷ luật của giảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa thực hành, hiểu biết và lý luận, trong đó tri thức luôn được nâng cấp thông qua hành động và lý luận chỉ thực sự có giá trị khi dẫn dắt được thực tiễn[2]. Quan điểm này giao thoa với lý thuyết giáo dục người lớn của Knowles[3], vốn nhấn mạnh tôn trọng nhu cầu tự chủ và khai thác kinh nghiệm sẵn có của người học trưởng thành, chu trình học tập trải nghiệm bốn giai đoạn của Kolb[4], và khái niệm suy ngẫm trong hành động của Schön[5], nơi tri thức nghề nghiệp hình thành ngay trong quá trình xử lý tình huống phức hợp.

Vận dụng vào đào tạo cán bộ, tri thức đồng kiến tạo được tái cấu trúc theo ba chiều liên kết chặt chẽ. Thứ nhất là ngữ cảnh hóa, gắn khái niệm, mô hình lý luận với điều kiện chính trị, văn hóa, thể chế cụ thể của địa phương. Thứ hai là hành động hóa, chuyển hóa tri thức lý luận thành công cụ chẩn đoán vấn đề và thiết kế giải pháp can thiệp trong thực tiễn công tác. Thứ ba là dữ liệu hóa, nâng cao năng lực đọc và diễn giải dữ liệu, kể cả dữ liệu được hỗ trợ bởi công nghệ số. Cùng với tri thức mới, quá trình đồng kiến tạo còn hướng tới hình thành giá trị mới, trước hết là giá trị công, thể hiện ở ba lớp chuyển hóa: nhận thức, từ tư duy kỹ thuật thuần túy sang tư duy gắn với bối cảnh và trách nhiệm; năng lực, phát triển khả năng lãnh đạo thích ứng, dẫn dắt đối thoại và quản trị xung đột lợi ích; đạo đức, nội hiện hóa chuẩn mực công vụ thành thói quen hành động và bản lĩnh chính trị.

2.2. Yêu cầu chính trị và định hướng của Đảng đối với đổi mới mô hình đào tạo cán bộ

Yêu cầu chuyển đổi mô hình dạy học không xuất phát đơn thuần từ đòi hỏi kỹ thuật sư phạm, mà bắt nguồn từ chủ trương lớn của Đảng về đột phá phát triển giáo dục, đào tạo gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững, tự chủ, tự cường trong kỷ nguyên mới. Chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm về chuyển mạnh từ truyền thụ kiến thức một chiều sang đồng kiến tạo tri thức mới, giá trị mới đặt ra ba yêu cầu chuyển đổi đồng thời: từ cấp độ cá nhân người dạy, người học đến cấp độ tổ chức nhà trường; từ phương thức tổ chức sản xuất, phân phối tri thức sang phương thức quản trị đào tạo gắn với tái cấu trúc vai trò người dạy, người học; từ những điều chỉnh kỹ thuật, phương pháp đơn lẻ đến thiết kế một hệ sinh thái quản trị tri thức toàn diện. Đồng thời, Tổng Bí thư dành sự quan tâm đặc biệt đến hệ thống trường chính trị cấp tỉnh, coi đây là nền tảng của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở cơ sở, yêu cầu tăng cường liên kết, chia sẻ chương trình, phương pháp đào tạo, hạ tầng số và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên gắn với thực tiễn địa phương.

Những định hướng nêu trên đòi hỏi hệ thống trường chính trị các tỉnh, trong đó có Trường Chính trị tỉnh Lào Cai, xem việc vận dụng mô hình đồng kiến tạo tri thức không phải là lựa chọn phương pháp cục bộ, mà là yêu cầu chính trị gắn liền với nhiệm vụ đổi mới căn bản công tác đào tạo cán bộ, trọng tâm là chuyển từ đào tạo người thực hiện đơn thuần sang đào tạo người có khả năng kiến tạo và dẫn dắt sự phát triển ở cơ sở.

2.3. Đặc thù vận dụng mô hình đồng kiến tạo tri thức trong đào tạo trung cấp lý luận chính trị

So với chương trình cao cấp lý luận chính trị dành cho cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược, chương trình trung cấp lý luận chính trị tại trường chính trị cấp tỉnh có đối tượng người học là cán bộ, công chức, viên chức đang công tác trực tiếp tại xã, phường, thị trấn và các cơ quan, đơn vị cấp cơ sở, mang theo vốn kinh nghiệm thực tiễn quản lý nhà nước khá phong phú, gắn với các vấn đề cụ thể như quản lý dân cư, giải quyết thủ tục hành chính, vận động quần chúng, đặc biệt ở địa bàn miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số như tỉnh Lào Cai. Vốn kinh nghiệm này là chất liệu quý giá cho quá trình đồng kiến tạo tri thức, nếu được giảng viên khai thác đúng cách thông qua thảo luận, phân tích tình huống và phản tư có định hướng.

Đồng thời, chương trình này đặt trọng tâm vào trang bị hệ thống kiến thức nền tảng về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỹ năng lãnh đạo, quản lý ở cơ sở. Do đó, vận dụng mô hình đồng kiến tạo tri thức ở cấp học này cần cân bằng giữa truyền tải khối kiến thức nền tảng bắt buộc với mở rộng không gian đối thoại, gắn lý luận với thực tiễn công tác của từng học viên, đặt ra yêu cầu cao đối với năng lực thiết kế bài giảng và điều phối lớp học của giảng viên, nhất là giảng viên trẻ, những người chưa có nhiều thời gian tích lũy kinh nghiệm công tác ở cơ sở như chính học viên mà họ giảng dạy.

2.4. Yêu cầu năng lực đặt ra đối với giảng viên trẻ trong mô hình đồng kiến tạo tri thức

Trong mô hình đồng kiến tạo, vai trò giảng viên không suy giảm mà đòi hỏi phức hợp, nâng cao hơn so với mô hình truyền thụ truyền thống. Giảng viên trước hết là người thiết kế quá trình học tập, biết xác định đúng trọng tâm vấn đề, chọn khung lý luận phù hợp và xây dựng chuỗi hoạt động đưa học viên từ trải nghiệm đến khái quát hóa lý luận. Thứ hai, giảng viên là người tổ chức tri thức và kiến tạo cộng đồng học tập, biết đặt câu hỏi có chất lượng, điều phối thảo luận, duy trì môi trường học tập an toàn, nơi học viên dám nêu chính kiến trên cơ sở tôn trọng bằng chứng và giá trị công. Thứ ba, ở tầng sâu hơn, giảng viên là huấn luyện viên năng lực, biết quan sát cách tư duy, phát hiện điểm mù trong nhận thức của học viên và phản hồi vào cả cách lập luận, cách xử lý xung đột giữa lý luận và thực tiễn.

Đối chiếu với những yêu cầu trên, đội ngũ giảng viên trẻ tại các trường chính trị cấp tỉnh nói chung đứng trước một nghịch lý đáng chú ý: có nền tảng lý luận được đào tạo bài bản, khả năng tiếp cận nhanh phương pháp dạy học hiện đại, nhưng thiếu hụt kinh nghiệm thực tiễn công tác quản lý nhà nước ở cơ sở và kỹ năng dẫn dắt đối thoại trong môi trường đa dạng về trình độ, lứa tuổi của học viên. Đây là khoảng trống năng lực cần được nhận diện đầy đủ, đồng thời là cơ sở lý luận trực tiếp cho việc phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp ở các phần tiếp theo.

3. Thực trạng đội ngũ giảng viên trẻ và việc vận dụng mô hình đồng kiến tạo tri thức trong đào tạo trung cấp lý luận chính trị tại Trường Chính trị tỉnh Lào Cai

3.1. Khái quát về đội ngũ giảng viên trẻ và những kết quả bước đầu trong vận dụng tinh thần đồng kiến tạo tri thức

Trường Chính trị tỉnh Lào Cai là cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức trực thuộc Tỉnh ủy Lào Cai, có nhiệm vụ trọng tâm là đào tạo trung cấp lý luận chính trị cho cán bộ, công chức cơ sở của một tỉnh miền núi, biên giới, có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Trong những năm gần đây, cùng với xu hướng trẻ hóa đội ngũ cán bộ giảng dạy chung của hệ thống trường chính trị cả nước, đội ngũ giảng viên trẻ của nhà trường chiếm tỉ trọng ngày càng lớn, phần lớn được đào tạo cơ bản ở trình độ đại học và sau đại học các chuyên ngành lý luận chính trị, luật, quản lý nhà nước. Đây là lực lượng có tinh thần cầu thị, chủ động học hỏi, có khả năng tiếp cận nhanh các phương tiện dạy học hiện đại và có ý thức đổi mới phương pháp giảng dạy, là nguồn lực kế cận quan trọng bảo đảm tính liên tục và phát triển của đội ngũ giảng viên nhà trường trong trung và dài hạn.

Thực tiễn giảng dạy tại nhà trường trong thời gian qua cho thấy nhiều dấu hiệu tích cực phù hợp với tinh thần của mô hình đồng kiến tạo tri thức, dù chưa được triển khai hệ thống và bài bản theo đúng nghĩa mô hình này. Nhiều giảng viên trẻ đã chủ động giảm tỉ lệ thuyết trình một chiều, tăng cường thảo luận nhóm, nêu vấn đề, phân tích tình huống gắn với thực tiễn quản lý nhà nước tại xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh, bước đầu khai thác vốn kinh nghiệm của học viên công tác lâu năm ở cơ sở vùng cao, vùng biên giới làm chất liệu minh họa và phản biện cho nội dung lý luận. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong soạn giảng, khai thác học liệu số cũng được đội ngũ giảng viên trẻ tiếp cận khá nhanh, tạo tiền đề thuận lợi cho việc mở rộng không gian dạy học ra ngoài khuôn khổ lớp học truyền thống.

3.2. Những hạn chế, khó khăn trong quá trình vận dụng mô hình

Bên cạnh những kết quả bước đầu, việc vận dụng mô hình đồng kiến tạo tri thức trong đội ngũ giảng viên trẻ của nhà trường còn bộc lộ không ít hạn chế. Trước hết, phần lớn giảng viên trẻ chưa từng trực tiếp đảm nhiệm các vị trí công tác quản lý nhà nước ở cơ sở, nên khi tổ chức thảo luận hoặc phân tích tình huống thực tiễn, họ gặp khó khăn trong việc dẫn dắt, phản biện sâu và kết nối tri thức lý luận với những vấn đề phức tạp mà học viên nêu ra từ kinh nghiệm công tác của mình, khiến vai trò huấn luyện viên năng lực chưa được phát huy đầy đủ. Thứ hai, kỹ năng thiết kế tình huống dạy học, xây dựng câu hỏi có chất lượng và điều phối thảo luận còn chưa đồng đều giữa các giảng viên trẻ, phần nhiều dựa trên kinh nghiệm cá nhân tự tích lũy hơn là được bồi dưỡng bài bản theo một khung phương pháp thống nhất. Thứ ba, do học viên trung cấp lý luận chính trị, hành chính tại tỉnh Lào Cai đa dạng về độ tuổi, trình độ, dân tộc, vùng công tác, việc tổ chức hoạt động đồng kiến tạo đòi hỏi kỹ năng điều phối linh hoạt hơn, trong khi phần lớn giảng viên trẻ chưa được trang bị đầy đủ kỹ năng này. Thứ tư, hạ tầng công nghệ, học liệu số tại một tỉnh miền núi còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng mở rộng không gian học tập theo hướng tích hợp trải nghiệm, thực địa như yêu cầu của mô hình đồng kiến tạo. Thứ năm, cơ chế đánh giá kết quả học tập và đánh giá năng lực giảng dạy tại nhà trường vẫn nghiêng nhiều về hình thức truyền thống như kiểm tra viết, đánh giá số giờ lên lớp, chưa phản ánh đầy đủ mức độ tham gia, tư duy phản biện, khả năng vận dụng thực tiễn và chất lượng sản phẩm tri thức mà mô hình đồng kiến tạo hướng tới.

3.3. Nguyên nhân của những hạn chế

Những hạn chế nêu trên xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Về khách quan, đặc điểm địa bàn miền núi, biên giới, nhiều thành phần dân tộc khiến việc tổ chức hoạt động thực địa, khảo sát cơ sở gặp khó khăn về thời gian, kinh phí, đi lại; nguồn lực đầu tư cho hạ tầng công nghệ, học liệu số còn hạn chế so với yêu cầu. Về chủ quan, công tác quy hoạch, bồi dưỡng giảng viên trẻ gắn với thực tiễn cơ sở, như luân chuyển, biệt phái thực tế, chưa được thực hiện thường xuyên, hệ thống; chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm còn thiên về kỹ thuật giảng dạy truyền thống, chưa cập nhật đầy đủ phương pháp thiết kế học tập trải nghiệm; bản thân một bộ phận giảng viên trẻ còn tâm lý e ngại thay đổi thói quen giảng dạy quen thuộc, lo ngại mở rộng thảo luận sẽ khó kiểm soát tiến độ trong quỹ thời gian hạn chế của chương trình.

4. Giải pháp vận dụng mô hình dạy học đồng kiến tạo tri thức nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trẻ tại Trường Chính trị tỉnh Lào Cai

4.1. Nâng cao nhận thức và đổi mới tư duy quản lý đào tạo

Cấp ủy, ban giám hiệu nhà trường cần quán triệt sâu sắc chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm và tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW đến toàn thể đội ngũ giảng viên, xác định việc chuyển sang mô hình đồng kiến tạo tri thức là yêu cầu chính trị bắt buộc chứ không phải một lựa chọn phương pháp mang tính tùy nghi. Cần cụ thể hóa chủ trương này thành kế hoạch hành động của nhà trường theo từng năm học, gắn với các chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá cụ thể đối với công tác đổi mới phương pháp giảng dạy, đặc biệt là đối với đội ngũ giảng viên trẻ, lực lượng nòng cốt thực hiện quá trình chuyển đổi này trong dài hạn.

4.2. Đổi mới nội dung, hình thức bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giảng viên trẻ

Nhà trường cần xây dựng chương trình bồi dưỡng chuyên sâu về phương pháp thiết kế học tập theo mô hình đồng kiến tạo, tập trung vào ba nhóm năng lực cốt lõi. Một là năng lực thiết kế bài giảng theo hướng thiết kế ngược từ mục tiêu chuyển hóa nhận thức, năng lực và giá trị của học viên, biết lựa chọn nội dung cốt lõi, dành thời lượng cho thảo luận và phản tư. Hai là năng lực tổ chức đối thoại, đặt câu hỏi mở, điều phối thảo luận nhóm và xử lý quan điểm trái chiều trên cơ sở tôn trọng bằng chứng và giá trị công, phù hợp với đặc thù đa dạng thành phần học viên tại tỉnh Lào Cai. Ba là năng lực khai thác tình huống thực tiễn quản lý nhà nước ở cơ sở, nhất là các vấn đề đặc thù của địa bàn miền núi, biên giới như quản lý đất đai, bảo vệ rừng, phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số, xây dựng nông thôn mới, cải cách thủ tục hành chính, để xây dựng thành học liệu tình huống phục vụ giảng dạy lâu dài.

Song song với bồi dưỡng tập trung, nhà trường nên thiết lập cơ chế kèm cặp giữa giảng viên có kinh nghiệm và giảng viên trẻ, tổ chức dự giờ, sinh hoạt chuyên môn theo hướng phân tích sâu chất lượng thiết kế sư phạm và mức độ kích hoạt tư duy của học viên, thay vì chỉ đánh giá hình thức trình bày bài giảng như trước đây.

4.3. Tăng cường trải nghiệm thực tiễn cho giảng viên trẻ

Để khắc phục khoảng trống về kinh nghiệm thực tiễn công tác cơ sở, một trong những giải pháp then chốt là xây dựng cơ chế đưa giảng viên trẻ đi thực tế, nghiên cứu thực tế hoặc biệt phái có thời hạn tại các xã, phường, thị trấn, các cơ quan chuyên môn cấp huyện trên địa bàn tỉnh. Thông qua quá trình này, giảng viên trẻ có điều kiện trực tiếp quan sát, tham gia xử lý các tình huống quản lý nhà nước ở cơ sở, từ đó tích lũy vốn kinh nghiệm thực tiễn cần thiết để làm chất liệu cho việc thiết kế tình huống dạy học và dẫn dắt đối thoại trên lớp. Bên cạnh đó, cần khuyến khích giảng viên trẻ tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học gắn với thực tiễn địa phương, phối hợp với các sở, ban, ngành, địa phương trong tỉnh để xây dựng ngân hàng tình huống thực tiễn phục vụ giảng dạy, coi đây vừa là nhiệm vụ nghiên cứu khoa học vừa là kênh bồi dưỡng năng lực thực tiễn cho giảng viên.

4.4. Đổi mới cơ chế đánh giá học viên và đánh giá giảng viên

Việc chuyển đổi mô hình dạy học chỉ thực sự bền vững khi đi kèm đổi mới cơ chế đánh giá tương ứng. Đối với đánh giá học viên, nhà trường có thể điều chỉnh phù hợp với đặc thù chương trình trung cấp lý luận chính trị, hành chính theo hướng kết hợp bốn nhóm tiêu chí: mức độ tham gia thực chất vào thảo luận, thể hiện qua chất lượng phát biểu và chia sẻ kinh nghiệm công tác; năng lực tư duy phân tích, thể hiện qua khả năng nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ và lập luận có căn cứ; năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn công tác tại cơ sở, thể hiện qua bài tập liên hệ, đề xuất giải pháp cho vấn đề cụ thể của địa phương; và sản phẩm tri thức cuối khóa, có thể là báo cáo thu hoạch gắn với thực tiễn, thay vì thuần túy bài kiểm tra viết mang tính tái hiện kiến thức. Có thể vận dụng linh hoạt thang đánh giá năng lực năm mức độ, từ biết, hiểu, phân tích, vận dụng đến kiến tạo, làm căn cứ xây dựng đề cương, câu hỏi kiểm tra và tiêu chí chấm điểm phù hợp mục tiêu đào tạo cán bộ có khả năng vận dụng, đề xuất giải pháp cho công việc thực tế ở cơ sở.

Đối với đánh giá giảng viên, cần bổ sung các tiêu chí phản ánh chất lượng thiết kế sư phạm, khả năng kích hoạt sự tham gia và tư duy phản biện của học viên, năng lực dẫn dắt đối thoại và khai thác tình huống thực tiễn, bên cạnh các tiêu chí truyền thống về khối lượng giờ giảng và trình độ chuyên môn. Đây là điều kiện quan trọng để tạo động lực thực chất cho giảng viên trẻ chủ động đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng đồng kiến tạo tri thức.

4.5. Ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo có kiểm soát

Trong điều kiện hạ tầng công nghệ của một tỉnh miền núi còn hạn chế, nhà trường cần có lộ trình đầu tư phù hợp cho hạ tầng số, học liệu số phục vụ giai đoạn chuẩn bị trước giờ lên lớp, qua đó dành nhiều thời gian hơn trên lớp cho thảo luận, phân tích tình huống và phản tư. Việc ứng dụng công nghệ, kể cả các công cụ trí tuệ nhân tạo hỗ trợ soạn giảng, phân tích dữ liệu hoặc mô phỏng tình huống, cần được khuyến khích nhưng phải đặt trong khuôn khổ đạo đức sư phạm rõ ràng, bảo đảm công nghệ chỉ đóng vai trò hỗ trợ, còn phán đoán chuyên môn, giá trị và trách nhiệm cuối cùng vẫn thuộc về giảng viên và học viên.

4.6. Mở rộng không gian học tập gắn với thực tiễn cơ sở tỉnh Lào Cai

Nhà trường nên chủ động phối hợp với các địa phương, cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh để tổ chức hoạt động học tập ngoài lớp học truyền thống, như tọa đàm chuyên đề với cán bộ cơ sở, khảo sát thực địa tại các mô hình phát triển kinh tế, xã hội tiêu biểu của tỉnh, sinh hoạt chuyên môn liên kết với xã, phường. Để trở thành một phần hữu cơ của quá trình đồng kiến tạo tri thức, mỗi hoạt động cần có mục tiêu học tập rõ ràng, nhiệm vụ chuẩn bị trước, nội dung đối thoại cụ thể tại hiện trường, phản tư sau chuyến đi và sản phẩm học tập cụ thể, tránh trở thành hình thức tham quan đơn thuần.

5. Kết luận

Vận dụng mô hình dạy học đồng kiến tạo tri thức giữa giảng viên và học viên là hướng đi tất yếu, phù hợp với chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm và yêu cầu đột phá phát triển giáo dục, đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW, đồng thời là giải pháp căn bản để nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trẻ tại Trường Chính trị tỉnh Lào Cai trong đào tạo trung cấp lý luận chính trị. Quá trình chuyển đổi này đòi hỏi sự đồng bộ giữa nâng cao nhận thức chính trị, đổi mới nội dung bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, tăng cường trải nghiệm thực tiễn, đổi mới cơ chế đánh giá và mở rộng không gian học tập gắn với đặc thù một tỉnh miền núi, biên giới, nhiều thành phần dân tộc. Khi được triển khai đồng bộ và kiên trì, mô hình đồng kiến tạo tri thức sẽ giúp đội ngũ giảng viên trẻ của nhà trường trưởng thành nhanh hơn cả về bản lĩnh chính trị lẫn năng lực sư phạm, góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ cơ sở của tỉnh Lào Cai vừa vững vàng về lý luận, vừa có khả năng vận dụng sáng tạo vào thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới./.

ThS. Hoàng Khắc Cương

Khoa Nhà nước và Pháp luật, Trường Chính trị tỉnh Lào Cai

Chú thích

[1] Cổng Thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2026), Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị tổng kết năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, ngày 05/01/2026, https://hcma.vn/toan-van-phat-bieu-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-hoi-nghi-tong-ket-nam-2025-va-trien-khai-nhiem-vu-nam-2026-cua-hoc-vien-chinh-tri-quoc-gia-ho-chi-minh-20559.htm

[2] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, Sửa đổi lối làm việc, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[3] Knowles, M. S. (1984), Andragogy in Action: Applying Modern Principles of Adult Learning, Jossey Bass, San Francisco.

[4] Kolb, D. A. (1984), Experiential Learning: Experience as the Source of Learning and Development, Prentice Hall, Englewood Cliffs.

[5] Schön, D. A. (1983), The Reflective Practitioner: How Professionals Think in Action, Basic Books, New York.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22 tháng 8 năm 2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.