Văn hóa chính là chiều sâu nội sinh, là "sức mạnh mềm" tối thượng để bảo vệ tổ chức đảng từ bên trong, giữ vững sợi dây kết nối bền chặt với quần chúng và củng cố vững chắc nền tảng cầm quyền chính danh của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đúc kết: "Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao, Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình. Đảng ta là đạo đức, là văn minh, Là thống nhất, độc lập, là hoà bình ấm no" [29]. Luận điểm bất hủ ấy không chỉ là sự khẳng định bản chất ưu việt, tính tiền phong gương mẫu của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà còn đặt nền móng lý luận căn bản cho việc kiến tạo hệ giá trị "Văn hóa Đảng". Trải qua 40 năm đổi mới, bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, việc bồi đắp và phát huy văn hóa Đảng chính là cội nguồn sức mạnh nội sinh, bảo đảm cho Đảng luôn giữ trọn ngọn cờ lãnh đạo, là nền tảng vững chắc nhất của tinh thần "phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân".
1. Những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa Đảng và sứ mệnh phụng sự
Văn hóa Đảng là biểu hiện sống động, toàn diện của hệ tư tưởng tiên tiến, chuẩn mực đạo đức cách mạng, phong cách lãnh đạo khoa học và hành vi tổ chức của Đảng cầm quyền. Về bản chất, đó là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần của một chính đảng cách mạng, kết tinh các giá trị Chân - Thiện - Mỹ cao cả nhất của nhân loại và dân tộc, biểu hiện cụ thể như sau:
Một là, bản chất văn hóa Đảng bắt nguồn từ hệ tư tưởng cách mạng và lý tưởng nhân văn cao cả.
Theo học thuyết Mác - Lênin, một chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân chỉ có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang khi được soi đường bởi một hệ tư tưởng khoa học, cách mạng và thấm đượm tính nhân văn sâu sắc. V.I. Lênin từng khẳng định tính nguyên tắc bất di bất dịch: "Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng" [33]. Đồng thời, V.I. Lênin còn chỉ rõ, phải xây dựng đảng cầm quyền thật sự tiêu biểu cho "trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại" [32]. Kế thừa và vận dụng sáng tạo di sản kinh điển vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam" [24].
Văn hóa Đảng là văn hóa tư tưởng chính trị dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống lý luận về đường lối đổi mới. Bản chất của sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam là một hiện tượng văn hóa độc đáo, đó là sản phẩm kết tinh giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước nồng nàn của dân tộc Việt Nam. Đảng đại diện cho sự hòa quyện biện chứng giữa tính giai cấp, tính dân tộc và tính nhân loại phổ quát. Hệ giá trị văn hóa tư tưởng của Đảng không dung nạp những điều xơ cứng, mà là sự nhận thức thấu đáo quy luật vận động khách quan của lịch sử, là sự thống nhất hữu cơ giữa tính tiền phong khoa học và mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người toàn diện.
Sức mạnh văn hóa tư tưởng của Đảng thể hiện ở sự trung thành vô hạn với lợi ích của nhân dân lao động. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C. Mác và Ph. Ăngghen khẳng định dứt khoát: "Những người cộng sản không có lợi ích nào tách rời khỏi lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản" [22]. Điểm gặp gỡ vĩ đại giữa lý luận cách mạng vô sản thế giới và tư tưởng Hồ Chí Minh chính là ở chân lý: Đảng ra đời không nhằm mưu cầu bất kỳ đặc quyền, đặc lợi cá nhân nào, mà mục tiêu duy nhất là lãnh đạo toàn dân đấu tranh giành độc lập dân tộc, tự do cho Tổ quốc và hạnh phúc ấm no cho nhân dân. Văn hóa Đảng là hiện thân của triết lý hành động: Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của Nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Bản lĩnh chính trị của người cộng sản là ý chí kiên định, sự kiên trung, khả năng nhạy bén phân tích thời cuộc và dũng khí đập tan mọi mưu toan xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng trên mọi mặt trận, nhất là trên không gian số hiện nay.
Hai là, đạo đức cách mạng là cốt lõi, linh hồn của văn hóa Đảng.
Bàn về văn hóa Đảng, trước hết phải khẳng định văn hóa đạo đức trong Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt đạo đức cách mạng lên vị trí trang trọng bậc nhất, xem đó là cái gốc căn bản của người cách mạng: "Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân" [25].
Trong cấu trúc văn hóa Đảng, hệ chuẩn mực đạo đức "Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư" không chỉ là yêu cầu tu dưỡng cá nhân của mỗi đảng viên, mà còn là thước đo văn minh chính trị của một Đảng cầm quyền chân chính. Văn hóa Đảng đòi hỏi sự rèn luyện công phu, kiên trì, suốt đời, thường xuyên thông qua cơ chế "tự soi", "tự sửa". Bác Hồ luôn nhắc nhở: "Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức quyến rũ lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân" [30]. Người cũng căn dặn sâu sắc rằng: "Toàn thể đảng viên và đoàn viên thanh niên lao động, bất kỳ ở cương vị nào, làm công tác gì đều phải trau dồi đạo đức cách mạng, tẩy trừ chủ nghĩa cá nhân, cố gắng học tập chính trị, văn hóa và khoa học kỹ thuật, làm tốt công tác kinh tế, tài chính, gương mẫu trong mọi việc làm" [28]. Trước nhân dân, "không phải ta cứ viết trên trán chữ ‘cộng sản’ là được họ yêu mến", mà uy tín và sự kính trọng chỉ có thể nảy nở từ sự liêm chính, công tâm và hy sinh của người cán bộ.
Đạo đức cách mạng trong văn hóa Đảng đối lập gay gắt với chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, thói hám danh lợi, bệnh bè phái, chạy chức chạy quyền và chủ nghĩa cơ hội chính trị. Một tấm gương sống về đạo đức có giá trị lay động hơn hàng trăm bài diễn văn tuyên truyền; phẩm chất đạo đức cách mạng mẫu mực của cán bộ, đảng viên chính là chất keo kết dính bền vững niềm tin của nhân dân với Đảng, tiếp thêm sinh lực tinh thần vô tận để Đảng chèo lái con thuyền cách mạng qua mọi ghềnh thác hiểm nguy.
Ba là, tinh thần "phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân"
Trong chỉnh thể quan hệ giữa Đảng với Nhân dân, văn hóa Đảng kết tinh ở chân lý "Dân là gốc", "Bao nhiêu quyền hạn đều của dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân" [26]. Đảng ta không phải là một tổ chức quyền lực đứng trên quần chúng để cai trị hay ban ơn thụ hưởng, mà bản chất đích thực của Đảng là "người đày tớ thật trung thành của nhân dân, người lãnh đạo sáng suốt của quần chúng" [31]. Toàn bộ Cương lĩnh chính trị của Đảng có thể đúc kết cô đọng trong mục tiêu: "Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc" vì lý tưởng "Độc lập - Thống nhất - Dân chủ - Phú cường".
Phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân đã chuyển hóa thành phong cách lãnh đạo, phương thức quản trị và lề lối làm việc hàng ngày. Văn hóa Đảng đòi hỏi mỗi cán bộ phải khắc ghi: việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh; biết lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của nhân dân. Tinh thần phụng sự khi thẩm thấu sâu sắc vào các tổ chức đảng sẽ định hình một phong cách làm việc dân chủ, khoa học, sâu sát cơ sở, thật sự "trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân". Đây là cội nguồn của sự đồng thuận xã hội và là sức mạnh vô địch của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
2. Sự phát triển nhận thức và thực tiễn xây dựng văn hóa Đảng qua 40 năm đổi mới
Trải qua chặng đường 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định thắng lợi lịch sử chính là bản lĩnh tự đổi mới, tự chỉnh đốn và nâng tầm văn hóa lãnh đạo của Đảng. Đổi mới không chỉ dừng lại ở tư duy kinh tế, tổ chức bộ máy mà trước hết bắt đầu từ việc Đảng dũng cảm tự soi lại mình, nhận diện thẳng thắn những khuyết tật chính trị, đẩy lùi suy thoái để luôn xứng đáng với trọng trách trước nhân dân và lịch sử. Từ Đại hội VI đến Đại hội XIV, nhận thức của Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng được bổ sung, phát triển cả về nội dung và phương thức thực hiện. Nếu trước đây xây dựng Đảng chủ yếu được tiếp cận trên các phương diện chính trị, tư tưởng và tổ chức, thì trong tiến trình đổi mới, nội dung xây dựng Đảng ngày càng được mở rộng, bao gồm cả đạo đức và công tác cán bộ; đồng thời gắn chặt hơn với kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đổi mới phương thức lãnh đạo và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Văn kiện tổng kết 40 năm đổi mới cũng ghi nhận sự phát triển nhận thức của Đảng trên các phương diện xây dựng Đảng, kiểm tra, giám sát, công tác dân vận và mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân.
Trong tiến trình đó, văn hóa Đảng không nên chỉ được hiểu là những chuẩn mực ứng xử hay phẩm chất đạo đức của cán bộ, đảng viên. Ở nghĩa rộng hơn, đó là hệ thống các giá trị, chuẩn mực và phương thức ứng xử được thể hiện trong tổ chức, hoạt động, thực thi quyền lực và mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân. Vì vậy, xây dựng văn hóa Đảng vừa là yêu cầu bên trong của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, vừa là thước đo năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong điều kiện cầm quyền. Sự phát triển toàn diện ấy không diễn ra một chiều, mà là quá trình tổng kết thực tiễn, không ngừng bổ sung, hoàn thiện lý luận cầm quyền của Đảng với những dấu ấn căn bản:
Một là, đổi mới nhận thức về xây dựng Đảng, từng bước xác lập rõ nội hàm văn hóa, đạo đức.
Khởi đầu từ Đại hội VI của Đảng, với tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật", Đảng ta đã dũng cảm đoạn tuyệt với tư duy bảo thủ, trì trệ, khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Nhận thức của Đảng từng bước phát triển vượt bậc khi khẳng định: Muốn đổi mới xã hội thành công, trước hết Đảng phải tự đổi mới chính mình về bản lĩnh trí tuệ, đạo đức và văn hóa cầm quyền.
Cương lĩnh 1991 và Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 đã định danh rõ ràng: Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là đội tiên phong của giai cấp công nhân, mà đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Luận điểm này phản ánh chiều sâu văn hóa chính trị Việt Nam, hòa quyện tuyệt đối giữa sứ mệnh của Đảng với lợi ích sống còn của quốc gia - dân tộc. Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) năm 2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã đặt dấu mốc quan trọng khi chỉ rõ: "Chú trọng chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và các đoàn thể; coi đây là nhân tố quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh" [4]. Đến Đại hội XII, Đảng tiếp tục khẳng định: "Coi trọng xây dựng văn hóa trong các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, trong hệ thống chính trị mà nội dung quan trọng là tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" [5].
Bước tiến xa về tư duy xây dựng Đảng tiếp tục được đúc kết sâu sắc tại Đại hội XIV: "Từ yêu cầu của thực tiễn xây dựng Đảng trong quá trình đổi mới, Đại hội XII của Đảng đã phát triển vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức thành một nội dung, nhiệm vụ xây dựng Đảng mới. Đến Đại hội XIII, Đảng đưa việc xây dựng đội ngũ cán bộ thành một mặt chủ yếu của xây dựng Đảng. Qua quá trình 40 năm, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát triển cấu trúc công tác xây dựng Đảng thành 5 mặt cơ bản: "Chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ" [12]. Bài học lớn được Văn kiện Đại hội XIII khẳng định: "Một là, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ" [10]. Văn hóa Đảng do đó không còn bó hẹp ở chuẩn mực giao tiếp ứng xử đơn thuần, mà là sự tổng hòa của 5 mặt công tác, định hình diện mạo, cốt cách và tính chính danh của tổ chức cách mạng.
Hai là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh gắn với kiểm soát quyền lực và hình thành văn hóa liêm chính.
Văn hóa Đảng không thể trừu tượng mà phải được minh chứng bằng cuộc đấu tranh không khoan nhượng nhằm loại trừ các biểu hiện phản giá trị, tha hóa quyền lực. Hơn một thập kỷ qua, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã được Trung ương tiến hành bài bản, quyết liệt, liên tục với tinh thần "không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai". Hàng loạt văn kiện, quy định rường cột về chuẩn mực văn hóa công vụ và đạo đức đã được ban hành và thực thi nghiêm minh: Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương; Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới; gắn liền với Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 16/01/2025 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới"; Quy định số 207-QĐ/TW ngày 26/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm [11].
Về nguyên tắc tối thượng trong thực thi quyền lực, Văn kiện Đại hội XIV khẳng định: "Mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền lực phải được ràng buộc bằng trách nhiệm, quyền lực đến đâu trách nhiệm đến đó, quyền lực càng cao trách nhiệm càng lớn; bất kể ai lạm dụng, lợi dụng quyền lực để trục lợi đều phải bị truy cứu trách nhiệm và xử lý vi phạm" [13].
Thực tiễn đấu tranh quyết liệt minh chứng cho nhận định tại Văn kiện Đại hội XIII: "Công tác kiểm tra, giám sát và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được triển khai quyết liệt, bài bản, đi vào chiều sâu, có bước đột phá và đạt những kết quả cụ thể, rõ rệt. Nhiều vụ án kinh tế, tham nhũng được phát hiện, điều tra, khởi tố, xét xử nghiêm minh, tạo sức răn đe, cảnh tỉnh, được cán bộ, đảng viên và nhân dân hoan nghênh, đánh giá cao và đồng tình ủng hộ" [6]. Việc làm trong sạch Đảng không hề làm "nhụt chí" cán bộ hay kìm hãm phát triển, mà trái lại, đã tôi luyện kỷ cương phép nước, kiến tạo văn hóa liêm chính, củng cố vững chắc niềm tin của toàn dân vào tương lai đất nước.
Ba là, đổi mới phương thức lãnh đạo, tinh gọn tổ chức và chuyển mạnh từ "quản lý" sang "phục vụ".
Văn hóa Đảng biểu hiện tập trung qua phương thức cầm quyền và tính ưu việt của mô hình tổ chức bộ máy. Một bộ máy cồng kềnh, nhiều tầng nấc, quan liêu, đùn đẩy là biểu hiện của sự suy thoái văn hóa phục vụ. Triển khai Nghị quyết số 18-NQ/TW (khóa XII) cùng những quyết sách đổi mới bộ máy mang tính cách mạng trong giai đoạn mới, Đảng ta đã chỉ đạo quyết liệt việc tinh gọn tổ chức, giảm đầu mối, xây dựng mô hình chính quyền phục vụ, đẩy mạnh phân cấp phân quyền và tinh giản biên chế gắn liền với cơ cấu lại đội ngũ công chức.
Đồng thời, văn hóa dân chủ được mở rộng thực chất. Văn kiện Đại hội XIII đúc kết bài học: "Hai là, trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm "dân là gốc"; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc..." [7]. Tổng kết 40 năm đổi mới, Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh bước phát triển vượt bậc về chất: "Bổ sung, phát triển, từng bước hoàn thiện quan điểm về dân chủ và mở rộng, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Mở rộng, phát triển phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" thành "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng" [14]. Thành tố "dân thụ hưởng" là cột mốc nhân văn chói lọi trong tiến trình phát triển văn hóa Đảng, khẳng định mọi thành quả của công cuộc đổi mới phải được chia sẻ công bằng, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc, tự do và văn minh cho mọi tầng lớp nhân dân.
3. Những yêu cầu cấp thiết của thực tiễn đối với văn hóa Đảng trong bối cảnh mới
Thứ nhất, tác động phức tạp của không gian số và an ninh tư tưởng.
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI), các nền tảng mạng xã hội và truyền thông số tạo ra không gian giao tiếp mở nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro rất lớn. Các thế lực thù địch tăng cường triển khai các chiến dịch thông tin xấu độc, bôi lem lịch sử, xuyên tạc bản chất cách mạng nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân. Một bộ phận cán bộ còn lúng túng, kỹ năng số hạn chế, thiếu thận trọng trong phát ngôn trên mạng, dễ rơi vào "bẫy truyền thông". Nhìn nhận thẳng thắn những khó khăn, thách thức này trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV đã chỉ rõ: "Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch còn hạn chế; việc kiểm soát, ngăn chặn các thông tin xấu độc có lúc bị động, lúng túng, thiếu sắc bén, thiếu tính thuyết phục. Công tác quản lý báo chí, truyền thông, xuất bản, nhất là quản lý mạng xã hội chưa đáp ứng yêu cầu" [16]. Thực tế đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao bản lĩnh chính trị, sức đề kháng tư tưởng và chuẩn mực ứng xử số cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, bảo đảm giữ vững "trận địa" văn hóa tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên số.
Thứ hai, thách thức từ mặt trái của kinh tế thị trường.
Sự xâm nhập của lối sống thực dụng và xu hướng chạy theo lợi ích vật chất cục bộ đang đe dọa trực tiếp đến các giá trị chuẩn mực của văn hóa Đảng, dẫn tới nguy cơ xói mòn niềm tin và suy thoái phẩm chất chính trị. Đáng lo ngại, thực tiễn ghi nhận không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện; một bộ phận cán bộ, đảng viên làm việc hời hợt, giảm sút ý chí chiến đấu và tinh thần phụng sự. Thực trạng này đã được Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: "Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" [8]. Đồng thời, Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII cũng nhấn mạnh: "Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật" [21]. Kế thừa và nhìn nhận thẳng thắn những hạn chế kéo dài đó, trong Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam, Đảng ta tiếp tục chỉ rõ thực trạng nhức nhối trong công tác cán bộ: "Không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện. Một bộ phận cán bộ quản lý doanh nghiệp thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, lợi dụng kẽ hở trong cơ chế, chính sách, pháp luật, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát vốn, tài sản nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng. Một bộ phận cán bộ sa sút bản lĩnh chính trị, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá". Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp cao, thiếu gương mẫu, uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm" [17]. Đây chính là bài toán thực tiễn cấp bách đòi hỏi phải tăng cường xây dựng văn hóa Đảng về đạo đức, nhằm củng cố "sức đề kháng" cho đội ngũ cán bộ trước mọi cám dỗ vật chất.
Thứ ba, khắc phục tư tưởng sợ sai, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm.
Trước yêu cầu đổi mới nhanh, áp lực công việc ngày càng lớn, ở một số cơ quan, đơn vị xuất hiện tâm lý e dè, "làm cầm chừng", né tránh trách nhiệm, không dám đột phá. Tình trạng này đã được chỉ rõ trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV khi đánh giá về thực trạng đội ngũ đảng viên: "Một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cấp cao thiếu tu dưỡng, rèn luyện, không gương mẫu, có biểu hiện đùn đẩy, né tránh, không dám làm, không dám đổi mới sáng tạo, phai nhạt lý tưởng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm những điều đảng viên không được làm, vi phạm pháp luật; số đảng viên bỏ sinh hoạt đảng phải xoá tên có xu hướng tăng" [18]. Căn bệnh sợ sai, co cụm này là lực cản lớn đối với sự vận hành nhịp nhàng của hệ thống, đòi hỏi Đảng ta phải nhanh chóng hoàn thiện hành lang bảo vệ cán bộ năng động, dám dấn thân, giữ vững văn hóa hành động và tinh thần phụng sự của người cộng sản tiền phong.
4. Một số giải pháp tiếp tục xây dựng văn hóa Đảng trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Một là, kiên định, bổ sung và phát triển sáng tạo nền tảng tư tưởng của Đảng; bồi đắp văn hóa chính trị vững vàng.
Văn hóa chính trị là hạt nhân định hướng, quyết định sức mạnh và sinh mệnh của Đảng. Cần đổi mới mạnh mẽ công tác học tập, tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận đổi mới; kiên quyết loại bỏ căn bệnh ngại học, lười học lý luận. Các tài liệu giáo dục cần được số hóa, ứng dụng đa phương tiện để tăng tính truyền cảm và sức lan tỏa.
Chủ động triển khai hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch trên mọi mặt trận, nhất là không gian mạng. Đồng thời, nâng cao năng lực tư duy lý luận và dự báo chiến lược của các cấp ủy, chủ động làm chủ những vấn đề thời đại như chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn để lãnh đạo đất nước bứt phá.
Hai là, chuẩn hóa và thực hành sâu rộng các chuẩn mực đạo đức cách mạng, đề cao văn hóa nêu gương.
Đạo đức cách mạng phải được chuyển hóa thành ý thức tự giác và hành vi ứng xử hàng ngày. Toàn Đảng thực hiện nghiêm túc Quy định số 144-QĐ/TW và Chỉ thị số 07-CT/TW, gắn chặt việc học tập và làm theo Bác với nhiệm vụ chính trị thực tế. Quán triệt sâu sắc phương châm "trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo". Cán bộ giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu về đức liêm chính, khiêm tốn, gần dân. Thực hiện đồng bộ các biện pháp kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, lãng phí để xây dựng văn hóa liêm chính, hình thành cơ chế "không thể, không dám, không muốn, không cần tham nhũng, lãng phí".
Ba là, xây dựng văn hóa hành động, đổi mới sáng tạo, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
Xây dựng văn hóa Đảng năng động, khoa học và quyết liệt. Thể chế hóa và thực thi nghiêm các cơ chế pháp lý để khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám đương đầu với khó khăn vì sự nghiệp chung theo tinh thần Đại hội XIII: "Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết" [9]. Tiếp tục quán triệt sâu sắc định hướng này trước những yêu cầu phát triển mới, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV nhấn mạnh yêu cầu: "Cần xây dựng cơ chế, điều kiện bảo đảm xây dựng được đội ngũ cán bộ trong sạch, tâm huyết, năng động, dám nghĩ dám làm, ngăn chặn tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong công tác cán bộ" [19]. Trên cơ sở đó, cần đổi mới căn bản công tác đánh giá cán bộ dựa trên sản phẩm thực tế, năng lực cụ thể và uy tín trước nhân dân. Thực hiện nghiêm nguyên tắc "có vào, có ra, có lên, có xuống", kịp thời thay thế những cán bộ suy thoái, né tránh, trì trệ nhằm làm trong sạch bộ máy.
Bốn là, củng cố mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với Nhân dân, xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc.
Đổi mới công tác dân vận theo hướng sâu sát cơ sở, giải quyết kịp thời, dứt điểm những vướng mắc của nhân dân ngay từ cơ sở. Thể chế hóa sâu rộng cơ chế "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng", lấy sự hài lòng, hạnh phúc của người dân làm thước đo hiệu quả công tác. Để tạo nền tảng chính trị - xã hội vững chắc cho mối quan hệ mật thiết này, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV đã chỉ rõ yêu cầu cốt lõi trong xây dựng nền tảng lòng dân: "Xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, trước hết là xây dựng niềm tin và sự đồng thuận của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới; xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về giai cấp, dân tộc, tôn giáo, chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc làm cơ sở chính trị, pháp lý để xây dựng thế trận lòng dân; xây dựng, củng cố các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức và lực lượng xã hội trên phạm vi cả nước, nhất là ở các tuyến, địa bàn trọng điểm; chăm lo phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân từ thành phố tới nông thôn, miền núi, vùng biên giới, hải đảo" [20]. Gắn liền với đó là nhiệm vụ xây dựng đạo đức công vụ tận tụy, liêm chính của đội ngũ cán bộ trong toàn hệ thống chính trị. Xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc kết hợp với thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, tạo điểm tựa bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước.
Xây dựng văn hóa Đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam và sứ mệnh phụng sự tại Học viện Hậu cần
Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, việc xây dựng văn hóa Đảng luôn gắn liền với truyền thống vẻ vang của Quân đội cách mạng "từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu" và phẩm chất cao đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ". Đảng bộ Quân đội luôn gương mẫu đi đầu trong việc chuẩn hóa các tiêu chí văn hóa chính trị, văn hóa quân sự và đạo đức cách mạng, bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội.
Tại Học viện Hậu cần - trung tâm giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học hậu cần, tài chính quân sự hàng đầu của Quân đội ta, việc bồi đắp và thực hành văn hóa Đảng mang ý nghĩa rất quan trọng, gắn liền với lời dạy ân cần của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cán bộ ngành Hậu cần: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, tận tụy phục vụ bộ đội và Nhân dân. Đảng bộ Học viện Hậu cần đã không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo, xây dựng văn hóa tổ chức dân chủ, kỷ cương, đoàn kết và nhân văn; cụ thể hóa các chuẩn mực văn hóa Đảng vào phong trào thi đua "Dạy tốt, học tốt, phục vụ tốt", xây dựng môi trường sư phạm mẫu mực, không có tiêu cực, chạy điểm, chạy chức chạy quyền. Mỗi cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên của Học viện luôn thấm nhuần tinh thần trách nhiệm, chủ động làm chủ công nghệ, chuyển đổi số trong công tác giáo dục - đào tạo và quản lý hậu cần quân sự hiện đại; đề cao tính nêu gương, liêm chính, thực hiện tốt phương châm "Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt. Thế mới dân chủ, mới đoàn kết, mới tất thắng" [27]. Việc rèn luyện và thực hành văn hóa Đảng tại Học viện Hậu cần đã trực tiếp đào tạo nên những thế hệ sĩ quan hậu cần "vừa hồng, vừa chuyên", tuyệt đối trung thành với Đảng, tận tụy phụng sự Tổ quốc, hết lòng phục vụ Nhân dân và bộ đội, đáp ứng xuất sắc mọi yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh trong kỷ nguyên mới.
Văn hóa Đảng là sự kết tinh giữa chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với truyền thống văn hóa vẻ vang hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Đó chính là cội nguồn của sức mạnh lãnh đạo, là căn cốt bảo đảm cho Đảng ta luôn giữ vững bản chất cách mạng, trong sạch, vững mạnh, vượt qua mọi thử thách của lịch sử. Trong kỷ nguyên mới, xây dựng và thực hành văn hóa Đảng phải trở thành trách nhiệm tự giác của mỗi cán bộ, đảng viên trước Tổ quốc và Nhân dân. Như Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã khẳng định: "Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình; tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng" [15]. Đứng vững trên nền tảng văn hóa vững chắc ấy, với tinh thần phụng sự và cống hiến vô điều kiện, Đảng Cộng sản Việt Nam nhất định sẽ lãnh đạo toàn dân tộc thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Bùi Tiến Đạt - Đặng Thái Minh - Khoa Chỉ huy Hậu cần, Học viện Hậu cần
Vũ Thành Long - Khoa Lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Hậu cần
Nguyễn Văn Dũng - Nguyễn Trung Kiên - Phòng Chính trị, Học viện Hậu cần
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội.
[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2014), Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) "Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước", ngày 14/5/2014, Hà Nội.
[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, tr. 215.
[6], [7], [8], [9]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 21-22; 27; 92; 187.
[10]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 26.
[11]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Quy định số 207-QĐ/TW, ngày 26-7-2026 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, Hà Nội.
[12], [13], [14], [15], [16], [17], [18], [19], [20]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 91; 98-99; 96; 89-90; 165; 170; 166-167; 234; 78-79.
[21]. Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá", Hà Nội, tr. 1.
[22]. C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 614.
[23]. C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 18, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[24]. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 289.
[25]. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 292.
[26]. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 6, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 232.
[27]. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 76.
[28]. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 5.
[29]. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 403.
[30], [31]. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 15, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 672; 622.
[32]. Lênin Toàn tập, Tập 24, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr. 122.
[33]. Lênin Toàn tập, Tập 6, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, tr. 30.