logo
ISSN 2734-9020

Văn hóa Đảng - Nguồn sức mạnh mềm của đối ngoại Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc: Đi qua hận thù, dựng những nhịp cầu

Thứ năm, 22/10/2026 - 14:53

Chiến tranh khép lại, nhưng những ngăn cách trong quan hệ quốc tế còn kéo dài, đặt thêm trở ngại trên con đường xây dựng đất nước. Để mở rộng không gian phát triển, Đảng đã từng bước đổi mới tư duy, đưa Việt Nam vượt qua thế bị bao vây, cô lập, tham gia hợp tác khu vực và nối lại quan hệ với những nước từng ở phía bên kia chiến tuyến. Hành trình ấy cho thấy chiều sâu của văn hóa Đảng trong cách ứng xử với lịch sử và trách nhiệm trước tương lai dân tộc. Truyền thống nhân nghĩa, hòa hiếu được tiếp nối bằng những quyết sách vừa giữ vững quyền tự chủ, vừa mở đường cho đất nước hòa nhập với thế giới.

1. Mở đường từ đổi mới tư duy

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước khép lại bằng Đại thắng mùa Xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đưa non sông thu về một mối. Từ niềm vui thống nhất, dân tộc bước vào công cuộc dựng xây với những vết thương chiến tranh còn sâu nặng, đời sống Nhân dân thiếu thốn và quan hệ quốc tế nhiều trở ngại. Yêu cầu khôi phục kinh tế, đưa đất nước thoát khỏi thế bị bao vây, cô lập đòi hỏi Đảng phải đổi mới cách nhìn nhận thời cuộc, tìm kiếm những khả năng hợp tác để mở đường phát triển.

Ngày 20-5-1988, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 13/NQ-TW về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới, xác định yêu cầu củng cố, giữ vững hòa bình để tập trung xây dựng và phát triển kinh tế. Đến tháng 3-1990, Hội nghị Trung ương 8 khóa VI tiếp tục đặt việc mở rộng quan hệ đối ngoại theo phương châm "thêm bạn, bớt thù" trong những nhiệm vụ cấp bách. Những quyết định ấy đánh dấu sự chuyển biến quan trọng trong tư duy đối ngoại, gắn môi trường hòa bình với yêu cầu phát triển đất nước.

Sự chuyển biến đó đòi hỏi vượt qua những cách nhìn đã hình thành trong hoàn cảnh chiến tranh để nhận thức đầy đủ hơn sự vận động của các quan hệ quốc tế. Những nước có chế độ chính trị khác nhau vẫn có nhu cầu hợp tác; giữa các bên còn bất đồng vẫn tồn tại những lợi ích chung có thể cùng thúc đẩy. Giữ vững độc lập, tự chủ vì thế đi liền với việc chủ động tìm kiếm khả năng hợp tác, tranh thủ điều kiện bên ngoài để tăng thêm sức mạnh cho đất nước.

Đổi mới tư duy đối ngoại bắt đầu từ việc nhìn thẳng vào tình cảnh đất nước, nhận rõ những trở ngại cần tháo gỡ để mở đường phát triển. Trách nhiệm trước đời sống Nhân dân đòi hỏi Đảng phải vượt qua những nhận thức đã không còn phù hợp, xem xét thấu đáo sự chuyển biến của thời cuộc để lựa chọn cách đi. Trong quá trình ấy, văn hóa Đảng được bồi đắp bằng thái độ tôn trọng sự thật và bản lĩnh đổi mới, lấy lợi ích lâu dài của dân tộc làm căn cứ cho những quyết định trước vận hội mới.

Hành trình gia nhập ASEAN ghi lại một câu chuyện đáng chú ý về quá trình đổi mới nhận thức trong lãnh đạo Đảng. Theo lời nguyên Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm, khi vấn đề được đưa ra bàn, bên cạnh những ý kiến đồng tình vẫn có sự phân vân về tính chất của ASEAN. Ông nhớ lại: "Tôi đã trình bày cặn kẽ các lý do ta nên gia nhập ASEAN"[1]. Những băn khoăn được trao đổi thẳng thắn, sự khác biệt giữa ASEAN với tổ chức quân sự SEATO được phân tích, làm rõ trước khi Bộ Chính trị giao Thường vụ Bộ Chính trị cân nhắc, quyết định. Qua câu chuyện ấy, có thể thấy bước mở cửa ra khu vực đã bắt đầu từ công việc đổi mới nhận thức trong chính tổ chức lãnh đạo, bằng thảo luận có căn cứ và sự thận trọng trước một lựa chọn có ý nghĩa lâu dài đối với đất nước.

Ngày 28-7-1995, Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quan hệ với khu vực từng có nhiều chia rẽ. Từ đây, những nước láng giềng có thêm cơ hội cùng bàn bạc, hợp tác vì sự phát triển chung. Việt Nam cũng tích cực vận động mở rộng Hiệp hội, góp phần thúc đẩy Lào, Myanmar gia nhập năm 1997 và Campuchia năm 1999, đưa ASEAN quy tụ cả mười quốc gia Đông Nam Á lúc bấy giờ. Bước qua những ngăn cách để tham gia hợp tác, Việt Nam đồng thời góp sức hàn gắn sự chia rẽ của khu vực, cùng các nước gây dựng một Đông Nam Á hòa bình, nơi lợi ích phát triển trở thành cơ sở để xích lại gần nhau.

Nhìn lại những bước chuyển ấy, đổi mới tư duy đối ngoại cũng là quá trình Đảng vượt qua những giới hạn trong nhận thức của chính mình để mở đường cho đất nước. Chiều sâu văn hóa lãnh đạo thể hiện ở sự trung thực trước thực tiễn và bản lĩnh thay đổi cách nghĩ, cách làm vì lợi ích lâu dài của Nhân dân. Từ đó, Việt Nam từng bước thoát khỏi thế bị bao vây, cô lập, chủ động tìm bạn bè, đối tác và tạo dựng vị thế bằng sự hợp tác bình đẳng, cùng có lợi.

2. Hàn gắn bằng những việc làm cụ thể

Với một dân tộc đã chịu nhiều mất mát vì chiến tranh, mở lại quan hệ với những nước từng đối đầu là một lựa chọn mang theo bao tâm tư. Hòa bình đã về, nhưng nhiều gia đình vẫn chưa tìm được người thân, còn hậu quả chiến tranh vẫn đè nặng lên cuộc sống của những người ở lại. Bước tới tương lai vì thế cũng mang theo trách nhiệm với những nỗi đau chưa khép. Trong hành trình hàn gắn, sự sẵn lòng chia sẻ mất mát và cùng nhau khắc phục hậu quả chiến tranh đã mở lối cho những cuộc đối thoại, để lòng tin dần trở lại từ những việc làm vì con người. Chủ trương của Đảng về hòa giải, mở rộng hợp tác được thực hiện từ những công việc còn nặng lòng với cả hai dân tộc. Ngay sau Hiệp định Paris năm 1973, Việt Nam và Hoa Kỳ đã triển khai hoạt động hợp tác nhân đạo tìm kiếm, kiểm kê quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh. Đến 4-2026, quá trình này đã giúp phía Hoa Kỳ nhận dạng và bàn giao hài cốt về gia đình gần 740 trường hợp trong tổng số 1.973 quân nhân mất tích tại Việt Nam[2]. Trong những việc làm ấy, truyền thống nhân nghĩa của dân tộc gặp gỡ với trách nhiệm của Đảng trong việc tìm đường hàn gắn sau chiến tranh. Nỗi đau được trân trọng, thiện chí được thể hiện bằng hành động, từng bước tạo cơ sở để vượt qua nghi kỵ và nối lại quan hệ. Dấu ấn văn hóa Đảng nằm ở cách khơi dậy lòng bao dung của Nhân dân và đưa tinh thần ấy vào những công việc nhân đạo, mở đường cho sự hợp tác lâu dài.

Những tài liệu chiến tranh đang được lưu giữ tại Hoa Kỳ nay trở thành nguồn thông tin giúp Việt Nam tìm kiếm người mất tích. Trong sáu tháng đầu năm 2026, dự án hợp tác giữa Đại học Công nghệ Texas và các đối tác Việt Nam đã phát hiện thông tin liên quan đến hơn 1.500 quân nhân Việt Nam qua nghiên cứu hồ sơ lưu trữ. Nguồn tư liệu này cũng góp phần hỗ trợ tìm kiếm các hố chôn tập thể liệt sĩ tại Công viên Lê Thị Riêng, Thành phố Hồ Chí Minh[3]. Qua những trang hồ sơ còn lại từ chiến tranh, người từng ở hai phía cùng tìm lời đáp cho những gia đình đã chờ đợi quá lâu.

Đó là những công việc mà thời gian càng trôi, trách nhiệm càng thêm cấp thiết. Nhân chứng thưa dần, dấu tích chiến trường thay đổi, nhiều cơ hội tìm kiếm có thể mất đi nếu chậm trễ. Bởi vậy, khi gặp Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ – ASEAN và các doanh nghiệp Hoa Kỳ ngày 23-9-2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đề nghị hỗ trợ khai thác tư liệu và nâng cao năng lực giám định ADN, phục vụ "Chiến dịch 500 ngày đêm". Đồng chí nhấn mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước[4]. Trong hoạt động đối ngoại, nghĩa vụ với người đã hy sinh được đặt thành yêu cầu hợp tác cụ thể, để những điều kiện có được hôm nay giúp giải quyết phần việc còn chưa trọn với quá khứ.

Hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh đã trở thành một cơ sở quan trọng để Việt Nam và Hoa Kỳ xây dựng lòng tin. Dự án xử lý ô nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng hoàn thành năm 2018 cho thấy khả năng phối hợp giải quyết những vấn đề phức tạp do chiến tranh để lại. Trong Tuyên bố chung năm 2023, hai nước tiếp tục xác định lĩnh vực này là một ưu tiên, gắn với các cam kết về tẩy độc sân bay Biên Hòa, rà phá bom mìn và hỗ trợ tìm kiếm người mất tích[5].

Trên cơ sở đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ là "hình mẫu trong quan hệ quốc tế về nỗ lực hàn gắn và xây dựng quan hệ sau chiến tranh"[6]. Trong tiến trình này, văn hóa Đảng thể hiện ở quan điểm gắn mở rộng hợp tác với trách nhiệm đối với Nhân dân và lợi ích lâu dài của dân tộc. Chủ trương hòa giải tạo điều kiện huy động thêm nguồn lực khắc phục hậu quả chiến tranh; việc thực hiện có kết quả các chương trình nhân đạo lại góp phần củng cố lòng tin, thúc đẩy hợp tác. Đó là mối liên hệ cụ thể giữa giá trị nhân văn trong đường lối lãnh đạo của Đảng với sức thuyết phục của Việt Nam trong quan hệ quốc tế.

Tinh thần hòa hợp còn được thể hiện trong cách nhìn đối với đồng bào ở nước ngoài. Trong bài phát biểu tại CSIS ngày 8-7-2015, khi nói về người Việt Nam tại Hoa Kỳ, Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh họ "cũng là đồng bào của chúng tôi"[7]. Với một dân tộc có nhiều hoàn cảnh ra đi và ký ức khác nhau, lời khẳng định ấy mang ý nghĩa của sự đón nhận. Những khác biệt vẫn cần thời gian để đối thoại, nhưng sự gắn bó với quê hương được trân trọng để người xa xứ có thể góp phần vào công việc chung của dân tộc.

Vượt qua những ngăn cách của lịch sử, Đảng đã đưa tinh thần nhân nghĩa, hòa hiếu của dân tộc vào những lựa chọn có ý nghĩa lâu dài đối với đất nước. Hòa giải mở thêm điều kiện để khắc phục hậu quả chiến tranh, làm tròn nghĩa vụ với người đã hy sinh và vun đắp sự gắn bó giữa những người cùng chung cội nguồn. Chiều sâu văn hóa của sự lãnh đạo nằm ở khả năng nối liền trách nhiệm với quá khứ và yêu cầu phát triển của hiện tại. Từ đó, Việt Nam tạo dựng lòng tin bằng chính cách mình giải quyết những tổn thất, khác biệt và cùng đối tác xây dựng tương lai.

3. Tôn trọng khác biệt, giữ vững tự chủ

Đi qua đối đầu để hợp tác, các quốc gia vẫn có những khác biệt về thể chế và lợi ích. Khả năng cùng phát triển tùy thuộc vào cách các bên nhìn nhận, tôn trọng và giải quyết những khác biệt ấy. Với Việt Nam, đường lối đối ngoại rộng mở của Đảng xuất phát từ yêu cầu giữ vững độc lập và phát triển đất nước. Việt Nam chủ động tìm kiếm hợp tác, đồng thời kiên trì bảo vệ quyền lựa chọn con đường phát triển của mình và tôn trọng quyền ấy ở các dân tộc khác.

Trong cuộc hội đàm tại Nhà Trắng năm 2015, Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh việc phát triển quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thể chế chính trị và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau[8]. Đến năm 2023, khi hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững, những nguyên tắc tôn trọng thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ tiếp tục được khẳng định[9].

Việc kiên trì những nguyên tắc ấy qua các giai đoạn phát triển quan hệ cho thấy sự nhất quán trong đường lối đối ngoại của Đảng. Việt Nam mở rộng hợp tác trên cơ sở các bên tôn trọng quyền tự quyết của nhau, cùng tìm kiếm lợi ích chung và đối thoại về những vấn đề còn bất đồng. Khác biệt về thể chế và quan điểm vẫn tồn tại, nhưng các nước có thể tìm được lợi ích chung để hợp tác. Việt Nam tham gia quá trình ấy với tư thế của một quốc gia tự chủ, tự quyết định đường hướng phát triển và các mối quan hệ của mình.

Đối thoại giữa các chính đảng giúp các bên hiểu rõ hơn những quan điểm và lựa chọn chính sách của nhau. Tuyên bố về Tầm nhìn chung Việt Nam – Hoa Kỳ năm 2015 ghi nhận các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam và các viện của Đảng Cộng hòa, Đảng Dân chủ Hoa Kỳ đã lần đầu tiến hành đối thoại, trao đổi theo khuôn khổ quan hệ Đối tác Toàn diện năm 2013[10]. Những tiếp xúc này mở thêm cơ hội để trao đổi về các vấn đề mà khác biệt về tư tưởng, thể chế từng khiến hai bên khó tìm được tiếng nói chung.

Qua kênh đối ngoại đảng, đối tác có thể hiểu rõ hơn đường lối của Việt Nam và những nguyên tắc Việt Nam kiên trì trong quan hệ quốc tế. Về phía mình, Đảng có thêm điều kiện lắng nghe, tìm hiểu cách nhìn và những quan tâm của đối tác. Trao đổi thẳng thắn giúp nhận rõ cả điểm tương đồng lẫn bất đồng, tránh để sự thiếu hiểu biết về nhau gây trở ngại cho hợp tác.

Với vai trò lãnh đạo đất nước, Đảng chịu trách nhiệm về cả đường lối đối ngoại và việc tổ chức thực hiện. Bởi thế, những điều trao đổi với đối tác mang theo trách nhiệm chính trị của Đảng, được kiểm chứng qua quá trình hợp tác sau đó. Đối tác có thể còn khác biệt về quan điểm, nhưng sự nhất quán của Việt Nam giúp họ hiểu rõ những giới hạn cần tôn trọng và những thỏa thuận có thể cùng thực hiện. Đó là cơ sở để duy trì lòng tin ngay cả khi quan hệ gặp khó khăn.

Tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc ngày 14-12-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khái quát bản sắc "cây tre Việt Nam" bằng hình ảnh "gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển"[11]. Hình ảnh ấy diễn đạt sự gắn bó giữa nền tảng và cách ứng xử. Sự linh hoạt cần có nguyên tắc để giữ được phương hướng; việc bảo vệ nguyên tắc cần cách làm phù hợp để đạt kết quả trong những hoàn cảnh khác nhau.

Bởi vậy, văn hóa Đảng trong đối ngoại phải giữ được tinh thần cầu thị và trách nhiệm với việc nước. Đảng cần lắng nghe để hiểu đúng tình hình, cân nhắc kỹ trước khi quyết định và sẵn sàng thay đổi cách làm khi thực tế đòi hỏi. Đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân cùng thực hiện một đường lối, đồng thời bổ trợ cho nhau bằng kinh nghiệm và thế mạnh riêng. Sự phối hợp ấy giúp Việt Nam giữ vững nguyên tắc mà vẫn tìm được cách hợp tác phù hợp với từng đối tác.

4. Từ khát vọng hòa bình đến trách nhiệm quốc tế

Từ những mất mát của chính mình, Việt Nam hiểu giá trị của hòa bình đối với cuộc sống và tương lai của mỗi dân tộc. Qua nhiều năm khôi phục và phát triển đất nước, Việt Nam từng bước có thêm điều kiện góp sức gìn giữ hòa bình ở những nơi còn xung đột. Khát vọng từng thôi thúc cả dân tộc đấu tranh giành độc lập nay được tiếp nối trong chủ trương của Đảng về một Việt Nam có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế.

Ngày 1-10-2018, Việt Nam triển khai Bệnh viện dã chiến cấp 2 đầu tiên tới Nam Sudan với 63 bác sĩ, điều dưỡng và kỹ thuật viên[12]. Liên hợp quốc ghi nhận dấu mốc này trong quá trình Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình. Từ mong muốn được sống trong hòa bình, Việt Nam đã từng bước có khả năng đóng góp nhân lực và chuyên môn để phục vụ những nhiệm vụ hòa bình quốc tế.

Đằng sau ngày lên đường là nhiều năm chuẩn bị. Từ năm 2014, Bệnh viện Quân y 175 được giao tổ chức huấn luyện, đào tạo cho bệnh viện dã chiến. Lực lượng được cử đi phải đáp ứng yêu cầu về chuyên môn và khả năng hoạt động trong môi trường đa quốc gia; bệnh viện trải qua các đợt kiểm tra, đánh giá của Liên hợp quốc trước khi nhận nhiệm vụ. Quá trình chuẩn bị còn có sự hỗ trợ của các đối tác quốc tế.

Chủ trương tham gia gìn giữ hòa bình đặt ra yêu cầu đối với Đảng trong việc chuẩn bị lực lượng đủ sức làm tròn nhiệm vụ quốc tế. Văn hóa Đảng được thể hiện qua sự nghiêm túc trong tổ chức công việc và giáo dục cán bộ về trách nhiệm đại diện cho đất nước. Khi làm việc cùng lực lượng các nước, mỗi cán bộ Việt Nam góp phần tạo nên hình ảnh quốc gia bằng chính năng lực và cách ứng xử của mình. Lòng tin của bạn bè quốc tế được gây dựng từ những đóng góp cụ thể ấy, nơi khát vọng hòa bình của Việt Nam được thực hiện bằng hành động có ích cho xã hội.

Từ một đất nước phải chiến đấu để giành quyền sống trong độc lập, Việt Nam đã bền bỉ mở đường hợp tác, cùng thế giới gìn giữ hòa bình. Chặng đường ấy đòi hỏi Đảng phải vượt qua những giới hạn trong nhận thức, bởi có những cách nhìn từng phù hợp trong chiến tranh cần được thay đổi trước yêu cầu dựng xây đất nước. Sự đổi mới đó bắt nguồn từ trách nhiệm với một dân tộc đã chịu quá nhiều hy sinh để có được hòa bình. Cũng vì thế, mở rộng hợp tác mang ý nghĩa sâu xa hơn việc có thêm đối tác hay nguồn lực phát triển. Đó còn là cách làm cho nền độc lập đã giành được đem lại cuộc sống xứng đáng hơn cho người dân. Văn hóa Đảng tạo nên sức thuyết phục từ chính sự gắn bó ấy giữa bản lĩnh giữ nước và trách nhiệm dựng nước. Bản lĩnh từng giúp dân tộc đứng vững trong chiến tranh tiếp tục được thử thách ở khả năng vượt qua đối đầu để cùng vun đắp hòa bình. Với Đảng, đó là trách nhiệm đưa đất nước đi xa hơn từ nền độc lập đã giành được bằng bao hy sinh, để các thế hệ mai sau có thể dành trọn sức mình cho công cuộc dựng xây./.

 Trung úy Dương Đình Tuấn

 Phòng PA05, Công an tỉnh Quảng Trị

 Nguyễn Gia Bảo

 Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh 


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Ngoại giao (2026), "Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ – ASEAN và các doanh nghiệp Hoa Kỳ", Cổng thông tin điện tử Bộ Ngoại giao, ngày 24-9-2026.

2. Mạnh Hùng (2018), "63 'sứ giả' hòa bình lên đường làm nhiệm vụ", Báo điện tử Chính phủ, ngày 1-10-2018.

3. Đoàn Thị Hương, Trần Thị Thu Trang (2023), "Chủ trương của Đảng về đổi mới công tác thông tin đối ngoại trong 10 năm đầu đổi mới", Tạp chí điện tử Lý luận chính trị, ngày 01-10-2023.

4. Kamal Malhotra (2018), "First International Conference on Viet Nam's Peacekeeping Operations" [Phát biểu tại Hội nghị quốc tế lần thứ nhất về hoạt động gìn giữ hòa bình của Việt Nam], Trang thông tin điện tử Liên hợp quốc tại Việt Nam, ngày 23-11-2018.

5. Hải Minh (2017), "Gia nhập ASEAN: Quyết sách lịch sử của Bộ Chính trị", Báo điện tử Chính phủ, ngày 7-8-2017.

6. Tiến Thành (2026), "Tưởng niệm 16 nạn nhân vụ tai nạn trực thăng 25 năm trước", Báo điện tử Dân trí, ngày 7-4-2026.

7. Minh Thu (2026), "Tiếp tục hoàn thiện hồ sơ để tìm kiếm và xác định danh tính hài cốt liệt sỹ", Báo điện tử VietnamPlus, ngày 22-7-2026.

8. Nguyễn Phú Trọng (2015), "Toàn văn bài nói chuyện của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại CSIS", Báo điện tử VietnamPlus, ngày 9-7-2015.

9. Nguyễn Phú Trọng (2021), "Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc", Báo điện tử Chính phủ, ngày 14-12-2021.

10. "Toàn văn Tuyên bố chung về nâng cấp quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện", Báo điện tử Chính phủ, ngày 11-9-2023.

11. "Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden", Trang thông tin điện tử Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ, ngày 25-9-2024.

12. "Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hội đàm với Tổng thống Obama", Báo điện tử Chính phủ, ngày 8-7-2015.

13. "Tuyên bố về Tầm nhìn chung Việt Nam – Hoa Kỳ", Báo điện tử Chính phủ, ngày 8-7-2015.

[1] Hải Minh (2017), "Gia nhập ASEAN: Quyết sách lịch sử của Bộ Chính trị", Báo điện tử Chính phủ, ngày 7-8-2017.

[2] Tiến Thành (2026), "Tưởng niệm 16 nạn nhân vụ tai nạn trực thăng 25 năm trước", Báo điện tử Dân trí, ngày 7-4-2026.

[3] Minh Thu (2026), "Tiếp tục hoàn thiện hồ sơ để tìm kiếm và xác định danh tính hài cốt liệt sỹ", Báo điện tử Vietnamplus, ngày 22-7-2026.

[4] Bộ Ngoại giao (2026), "Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN và các doanh nghiệp Hoa Kỳ", Cổng thông tin điện tử Bộ Ngoại giao, ngày 24-9-2026.

[5] Thông tấn xã Việt Nam (2023), "Toàn văn Tuyên bố chung về nâng cấp quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện", Báo điện tử Chính phủ, ngày 11-9-2023.

[6] Bộ Ngoại giao Việt Nam (2024), "Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden", Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, ngày 26-9-2024.

[7] Thông tấn xã Việt Nam (2015), "Toàn văn bài nói chuyện của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại CSIS", Báo điện tử Vietnamplus, ngày 09-7-2015.

[8] Bộ Ngoại giao Việt Nam (2015), "Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hội đàm với Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama", Cổng thông tin điện tử Bộ Ngoại giao, ngày 8-7-2015.

[9] Thông tấn xã Việt Nam (2023), "Toàn văn Tuyên bố chung về nâng cấp quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện", Báo điện tử Chính phủ, ngày 11-9-2023.

[10] "Tuyên bố về Tầm nhìn chung Việt Nam-Hoa Kỳ", Báo điện tử Chính phủ, ngày 08-07-2015.

[11] Nguyễn Phú Trọng (2021), "Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc", Báo điện tử Chính phủ, ngày 14/12/2021.

[12] Thông tấn xã Việt Nam (2018), "Việt Nam triển khai Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 1 tại Nam Sudan", Cổng thông tin Tư liệu Văn kiện, ngày 1-10-2018.