logo
ISSN 2734-9020

Văn hóa Đảng - Nguồn sức mạnh mềm của đối ngoại Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc: Từ thế nước nghìn cân đến tầm vóc một dân tộc

Thứ ba, 20/10/2026 - 20:15

Trước khi trở thành những nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của Đảng, nhiều giá trị đã được nuôi dưỡng qua đời sống lâu bền của dân tộc. Đó là lòng yêu nước gắn với ý thức giữ gìn bờ cõi, tình nghĩa đồng bào trong hoạn nạn, sự trọng danh dự và trách nhiệm với việc chung. Qua những cuộc chống ngoại xâm và bao năm tháng dựng xây, người Việt hiểu rằng giữ nước phải dựa vào sức dân, còn sự bền vững của quốc gia gắn với cuộc sống yên ổn của muôn nhà.

1. Từ cội rễ dân tộc đến tư cách người cách mạng

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trong lòng dân tộc ấy, tiếp nhận những truyền thống tốt đẹp và phát triển chúng trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Lòng yêu nước được dẫn dắt bằng đường lối cách mạng; khát vọng độc lập gắn với sự nghiệp giải phóng xã hội và con người; tinh thần cố kết được phát huy thành sức mạnh đoàn kết có tổ chức. Sự kế thừa ấy đồng thời đòi hỏi vượt qua những tập quán lạc hậu, tư tưởng hẹp hòi và thói quen cản trở bước tiến của đất nước.

Ngay trong quá trình chuẩn bị thành lập Đảng, Nguyễn Ái Quốc đã đặt việc rèn luyện con người vào vị trí nền móng. Đường Kách mệnh, xuất bản năm 1927, mở đầu bằng phần "Tư cách một người cách mệnh", với những yêu cầu như "Cả quyết sửa lỗi mình", "Vị công vong tư", "Nói thì phải làm"[1]. Những lời ngắn gọn ấy đi thẳng vào điều cốt yếu của người gánh vác việc chung, từ thái độ với bản thân đến trách nhiệm trước tổ chức và đồng bào.


Có thể thấy các chuẩn mực đạo đức đã được đặt ra từ khi chính quyền cách mạng còn chưa hình thành. Người cách mạng phải biết sửa mình trước khi đảm đương việc lớn, biết đặt lợi ích chung lên trên sự tính toán riêng và lấy hành động bảo đảm cho lời nói. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phẩm chất con người gắn liền với khả năng thực hiện lý tưởng; uy tín của tổ chức bắt đầu từ tư cách của những người đứng trong tổ chức ấy.

Những yêu cầu đó được thử thách trong hoạt động bí mật, trong tù đày và trong quá trình vận động quần chúng. Sự chở che của Nhân dân giúp cơ sở cách mạng tồn tại; sự tận tâm, lòng trung thành và đức hy sinh của người cán bộ bồi đắp niềm tin của dân đối với Đảng. Mối quan hệ ấy được gây dựng qua những công việc hằng ngày và những lựa chọn có khi phải trả bằng cả cuộc đời. Lịch sử của Đảng vì thế cũng là lịch sử học ở dân, dựa vào dân và tổ chức sức dân thành sức mạnh cách mạng.

Năm 1943, khi cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đang tiến tới bước ngoặt, Đề cương về văn hóa Việt Nam ra đời với ba nguyên tắc dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa. Văn kiện xác lập phương hướng vận động văn hóa, góp phần tập hợp trí thức, văn nghệ sĩ vào sự nghiệp cứu nước, đồng thời chuẩn bị nền tảng tinh thần cho xã hội tương lai. Giữa lúc chính quyền chưa giành được, Đảng đã quan tâm đến những điều làm nên sức sống lâu dài của một đất nước, từ tư tưởng, tri thức đến khả năng sáng tạo của con người.

Đường lối lãnh đạo văn hóa và văn hóa của Đảng có nội hàm riêng, nhưng gắn bó trong chính quá trình lãnh đạo cách mạng. Những mục tiêu về độc lập dân tộc, quyền lợi của đại chúng và tinh thần khoa học cũng đặt ra yêu cầu đối với người lãnh đạo. Muốn dẫn dắt xã hội tiến bộ, tổ chức lãnh đạo phải có trí tuệ, phương pháp làm việc và phẩm chất tương xứng.

Từ đó, văn hóa Đảng được nhận diện trong toàn bộ đời sống và hoạt động của Đảng, qua lý tưởng, đạo đức, nguyên tắc tổ chức, phương pháp lãnh đạo và quan hệ với Nhân dân. Là một bộ phận của văn hóa dân tộc, văn hóa Đảng đồng thời mang trách nhiệm của tổ chức lãnh đạo, thể hiện tập trung ở chất lượng đường lối, cách tổ chức thực hiện và tư cách của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Văn hóa ấy được hun đúc bằng sự lựa chọn và bền bỉ thực hành những giá trị tốt đẹp, qua cả những thành công lẫn bài học nghiêm khắc của lịch sử. Chính thực tiễn cách mạng đã kiểm nghiệm điều gì đủ sức quy tụ lòng người, điều gì phải sửa chữa để Đảng trưởng thành và tiếp tục gánh vác trách nhiệm trước dân tộc.

2. Giữa thế nước nghìn cân, lấy cuộc sống của dân làm gốc

Sau Cách mạng Tháng Tám, Đảng đứng trước một trọng trách mới. Giành chính quyền đã khó, giữ vững chính quyền và tổ chức cuộc sống của một nước độc lập còn đặt ra muôn vàn công việc chưa từng có. Niềm vui ngày nước nhà độc lập vẫn xen với nỗi đau của nạn đói, bóng tối của nạn thất học và nguy cơ chiến tranh. Giữ vững nền độc lập phải đi liền với việc chăm lo cho dân, để sau những năm dài nô lệ, mỗi người được sống xứng đáng với tư cách người chủ của đất nước mình.

Trong cuộc vận động cứu đói tháng 9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị đồng bào cứ mười ngày nhịn ăn một bữa, dành phần gạo ấy giúp người nghèo và Người thực hành trước. Cùng với lời kêu gọi sẻ chia là những biện pháp tổ chức cứu đói, vận chuyển lương thực, chống đầu cơ, tích trữ. Truyền thống thương người, đùm bọc nhau trong hoạn nạn được bồi đắp bằng sự tận tâm của chính quyền, sự gương mẫu của người đứng đầu và những việc làm thiết thực để đồng bào qua cơn đói khổ.

Giữa cảnh thiếu ăn, phần gạo người đứng đầu đất nước dành cho đồng bào có sức thuyết phục từ sự sẻ chia thực lòng. Người dân nhận ra chính quyền mới qua thái độ trước nỗi khổ của mình, còn cán bộ nhận được một lời nhắc về cách vận động quần chúng. Muốn dân góp sức, người lãnh đạo phải tự mình nhận trách nhiệm; muốn gây dựng niềm tin, lời nói phải có hành động đi cùng.

Ngày 8-9-1945, chỉ sáu ngày sau lễ Tuyên ngôn Độc lập, Chính phủ lâm thời ban hành sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ. Khi đất nước đang phải lo từng bữa ăn, việc mở mang dân trí vẫn được đặt trong những nhiệm vụ cấp bách. Nền độc lập cần những người dân có hiểu biết để làm chủ; cuộc đổi đời cần mở đường cho con người bước ra khỏi sự tối tăm, có thêm khả năng học hỏi và tham gia việc nước.

Bát gạo cứu đói gìn giữ sự sống, con chữ mở rộng cuộc đời. Hai công việc ấy cùng thể hiện một quan niệm nhất quán về mục đích của chính quyền cách mạng, đem lại những điều kiện sống xứng đáng cho người dân và phát huy năng lực của Nhân dân. Độc lập từ lời tuyên bố trước quốc dân và thế giới từng bước đi vào bữa ăn, sự học, vào hy vọng của mỗi gia đình.

Cũng trong những tháng đầu xây dựng chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm cảnh báo những biểu hiện cậy quyền, vụ lợi, xa dân. Trong Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng ngày 17-10-1945, Người căn dặn: "Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh"[2]. Lợi ích của dân trở thành căn cứ để xem xét công việc và thái độ của người thực thi quyền lực.


Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 tiếp tục đặt nền móng cho quyền làm chủ của Nhân dân giữa lúc nền độc lập còn bị đe dọa. Người vừa thoát khỏi thân phận thuộc địa thực hiện quyền lựa chọn đại biểu gánh vác việc nước. Sự thay đổi ấy mang ý nghĩa sâu xa về địa vị chính trị và phẩm giá con người, đồng thời đặt trách nhiệm của bộ máy mới dưới sự ủy thác của Nhân dân.

Đến bài Dân vận năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân"[3]. Người yêu cầu bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng dân tổ chức thực hiện rồi kiểm điểm công việc. Từ quan niệm về dân đến phương pháp lãnh đạo đã có một sự thống nhất rõ ràng. Nhân dân là người làm chủ, có tri thức, kinh nghiệm và khả năng sáng tạo mà người cán bộ phải biết tôn trọng, học hỏi và phát huy.


Giữa những ngày vận nước chênh vênh, Đảng gây dựng lòng tin từ việc lo cho dân qua cơn đói, giúp dân biết chữ, để dân được bàn và gánh vác việc nước. Văn hóa Đảng bén rễ trong đời sống từ những điều thiết thực ấy, qua cách người cán bộ sống với dân, làm việc vì dân và giữ mình trước quyền lực. Được dân tin, dân chở che, chính quyền non trẻ có thêm sức mạnh để cùng cả nước vượt qua hiểm nghèo.

3. Trưởng thành qua thử thách và sự nghiêm khắc với chính mình

Khi đã có chính quyền, việc giữ gìn phẩm chất của người cách mạng đứng trước những thử thách mới. Quyền hạn có thể trở thành phương tiện phục vụ việc chung, nhưng cũng có thể bị lợi dụng cho danh lợi riêng. Ngay trong kháng chiến, cùng với nhiệm vụ chống ngoại xâm, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ra yêu cầu sửa chữa khuyết điểm, chống những thói xấu có thể làm suy yếu tổ chức và tổn thương lòng dân.

Tháng 10-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh hoàn thành tác phẩm Sửa đổi lối làm việc. Tác phẩm bàn từ tự phê bình, đạo đức cách mạng đến công tác cán bộ, cách lãnh đạo và việc chống thói ba hoa. Giữa lúc cuộc kháng chiến đang gay go, việc sửa mình vẫn được coi là công việc thiết yếu. Sức mạnh chống giặc gắn với chất lượng tổ chức; chủ trương đúng cần có cách làm đúng và những cán bộ đủ năng lực, phẩm chất để thực hiện.

Tinh thần nghiêm khắc với chính mình được thể hiện rõ tại phiên họp Hội đồng Chính phủ tháng 11-1950, khi kiểm điểm vụ Trần Dụ Châu. Sau khi nghe báo cáo và các ý kiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những thiếu sót trong việc lựa chọn, giáo dục và kiểm tra cán bộ, đặt trách nhiệm của tổ chức bên cạnh trách nhiệm của người phạm tội. Người nhắc nhở: "Chúng ta hay nể nả. Mình chỉ biết mình thanh liêm là đủ. Quan niệm "thanh cao tự thủ" là không đủ... Tất cả chúng ta phụ trách trước nhân dân, trong anh em phải có tự phê bình và phê bình... Phải mở cửa khuyến khích lãnh đạo tự phê bình và phê bình"[4]. Lời nhắc ấy đi thẳng vào thói nể nang và sự bằng lòng với việc giữ riêng mình trong sạch. Trước Nhân dân, người cán bộ còn có trách nhiệm ngăn ngừa sai phạm, thẳng thắn góp ý với đồng chí và nhận phần thiếu sót của mình trong công việc chung. Qua việc kiểm điểm ấy, văn hóa Đảng được bồi đắp bằng sự trung thực, lòng tự trọng và bản lĩnh sửa chữa khuyết điểm để giữ gìn lòng tin của dân.Qua những năm tháng kháng chiến, việc rèn luyện cán bộ, sửa chữa khuyết điểm và giữ gìn sự gắn bó với Nhân dân đã trở thành công việc thường xuyên của Đảng. Năm 1960, nhìn lại ba mươi năm đấu tranh và trưởng thành, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định "Đảng ta là đạo đức, là văn minh"[5]. Lời khẳng định ấy mang chiều sâu của một chặng đường đã đi qua, đồng thời đặt lên vai mỗi cán bộ, đảng viên trách nhiệm gìn giữ phẩm chất của người cách mạng khi đất nước bước vào những nhiệm vụ mới.Đến Đại hội VI năm 1986, trước những khó khăn của đất nước, Đảng xác định thái độ "nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật"[6], nghiêm khắc kiểm điểm sai lầm, khuyết điểm và đề ra đường lối đổi mới. Báo cáo chính trị đồng thời rút ra bài học về tư tưởng "lấy dân làm gốc", yêu cầu xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan.


Từ lời nhắc sửa lỗi trong Đường Kách mệnh đến Sửa đổi lối làm việc và tinh thần đổi mới ở Đại hội VI có một sự tiếp nối về trách nhiệm trước sự nghiệp chung. Mỗi thời kỳ đặt ra những vấn đề khác nhau, nhưng đòi hỏi người lãnh đạo phải đủ trung thực để nhận ra hạn chế và đủ bản lĩnh để sửa chữa. Văn hóa Đảng được bồi đắp qua chính quá trình vượt qua thử thách ấy, bằng khả năng giữ vững mục đích và đổi mới cách làm để đáp ứng yêu cầu của đất nước.

4. Từ nền tảng bên trong đến sức thuyết phục của Việt Nam

Nhìn từ chiều dài lịch sử, văn hóa Đảng trước hết tác động đến năng lực lãnh đạo, chất lượng đội ngũ và mối quan hệ với Nhân dân. Từ nền tảng ấy, những giá trị được thực hành trong nước tiếp tục thể hiện qua cách Việt Nam ứng xử với thế giới, góp phần tạo nên sự đồng tình, kính trọng và tin cậy.

Ngay trong tháng 12-1946, giữa lúc nền độc lập đứng trước hiểm nguy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định trong Lời kêu gọi Liên hợp quốc: "Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực"[7]. Đặt bên cạnh những công việc cứu đói, chống thất học, xây dựng chính quyền, lời khẳng định ấy cho thấy tầm nhìn về một nước Việt Nam tự chủ và có khả năng phát triển trong quan hệ với các dân tộc khác.


Trong nỗi lo giữ nước đã có sự chuẩn bị cho ngày dựng xây. Độc lập đem lại quyền tự quyết, còn mở cửa và hợp tác tạo điều kiện học hỏi, phát huy nguồn lực để nâng cao đời sống Nhân dân. Tầm nhìn đối ngoại vì thế gắn với mục đích của công cuộc kiến quốc và với quan niệm nhất quán về vị trí con người trong sự nghiệp cách mạng.

Từ Hội nghị Genève năm 1954 đến Hội nghị Paris năm 1973, hoạt động ngoại giao Việt Nam dựa trên sức mạnh tổng hợp của dân tộc, của đấu tranh quân sự, chính trị và sự đoàn kết, ủng hộ quốc tế. Trong sức mạnh ấy, chính nghĩa của cuộc đấu tranh giành độc lập, ý chí tự quyết và khát vọng hòa bình đã góp phần đưa Việt Nam đến với sự đồng tình của bạn bè thế giới.

Sức mạnh mềm nằm ở khả năng tạo nên sự cảm phục, tin cậy và tự nguyện ủng hộ. Văn hóa Đảng góp phần nuôi dưỡng khả năng ấy qua mục tiêu được theo đuổi, chất lượng đường lối và cách hành động của tổ chức, của con người. Uy tín đối ngoại được củng cố bằng việc thực hiện nghiêm túc các cam kết và bảo đảm sự nhất quán giữa tuyên bố chính sách với hành động thực tế.

Bởi vậy, cội nguồn sức thuyết phục của Việt Nam còn nằm trong những công việc ở bên trong đất nước. Những giá trị Việt Nam theo đuổi có sức thuyết phục với bạn bè quốc tế khi được thể hiện ngay trong cách lãnh đạo, điều hành đất nước và trong những tiến bộ của đời sống Nhân dân. Ngược lại, sự quan liêu, vụ lợi, thiếu trách nhiệm làm tổn thương lòng dân và suy giảm nền tảng của uy tín quốc gia.

Từ thế nước nghìn cân đến tầm vóc Việt Nam hôm nay, văn hóa Đảng được hun đúc trong cuộc đấu tranh giành độc lập, trong công cuộc dựng xây và cả những lần nghiêm khắc nhìn lại mình để sửa chữa, đổi mới. Di sản ấy đặt ra trách nhiệm tiếp tục xây dựng một Đảng có trí tuệ, liêm chính, gắn bó với Nhân dân và đủ sức dẫn dắt đất nước phát triển. Sự trưởng thành của Đảng phải được thể hiện bằng thành quả phát triển và cuộc sống của người dân. Chính từ nền tảng ấy, Việt Nam có thêm uy tín và sức thuyết phục để mở rộng hợp tác, đóng góp vào hòa bình và tiến bộ của thế giới./.

Trung úy Dương Đình Tuấn - Công an tỉnh Quảng Trị 

Nguyễn Gia Bảo - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 47, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

2. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2008), Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử – Tập 4, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

3. Hồ Chí Minh (1927), Đường kách mệnh, Bộ Tuyên truyền Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á châu, Quảng Châu.

4. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

5. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

6. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 6, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

7. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 12, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

8. Phạm Bình Minh (2015), "Ngoại giao Việt Nam: 70 năm đồng hành cùng dân tộc", Báo điện tử Chính phủ, ngày 24-8-2015.

9. Nguyễn Quang Ngọc (2019), "Nhận diện văn hóa Đảng", Trang thông tin điện tử Ban Nội chính Trung ương, ngày 6-2-2019.

10. Hồ Chí Minh (1927), Đường Kách mệnh, Bộ Tuyên truyền Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á châu, Quảng Châu. ↑Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 4, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 64–66. 

11. ↑Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 6, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 232–234. 

12. ↑Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2008), Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử – Tập 4, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

13. ↑Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 12, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 416. 

14. ↑Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 47, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. ↑Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 4, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 523. ↑