Ảnh minh họa
Trong bối cảnh sáp nhập, sắp xếp tinh gọn bộ máy nhà nước hiện nay, cấp xã mới không còn là đơn vị hành chính nhỏ mà trở thành "đơn vị chủ lực", trong đó văn hóa làng xã được mở ra một không gian phát triển mới để nuôi dưỡng bản sắc, phát triển toàn diện, dân chủ và sáng tạo. Bài viết tập trung làm rõ vai trò của cấp xã mới trong phát triển văn hóa làng xã hiện nay, những thách thức và giải pháp phát huy vai trò của cấp xã trong bảo tồn, phát triển văn hóa làng xã, góp phần xây dựng, bồi đắp hệ giá trị văn hóa Việt Nam.
Từ khóa: văn hóa làng xã, cấp xã, tinh gọn bộ máy, không gian văn hóa
1. Đặt vấn đề
Tinh gọn bộ máy, sắp xếp lại các đơn vị hành chính là một yêu cầu tất yếu trong quá trình đổi mới đất nước để bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả hơn nhằm tiết kiệm nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Từ ngày 01/7/2025 mô hình hành chính 2 cấp (tỉnh và xã) được đưa vào vận hành trên toàn quốc, trong đó cấp xã là cấp chính quyền cơ sở đóng vai trò nền tảng trong hệ thống hành chính nhà nước, trở thành cầu nối trực tiếp giữa Nhà nước với nhân dân. Trong quá trình sát nhập cũng có nhiều nghi vấn được đặt ra: bản sắc văn hóa làng xã có bị xóa nhòa, mai một sau sát nhập hay không. Tuy nhiên như phát biểu của Tổng bí thư Tô Lâm khi dự Đại hội đại biểu lần thứ I, nhiệm kì 2025 -2030 Đảng bộ xã Nghĩa trụ, tỉnh Hưng Yên đã nhấn mạnh xây dựng cấp xã trở thành "không gian phát triển mới". Do đó, với đơn vị hành chính cấp xã mới, văn hóa làng xã không bị mai một mà còn được giữ gìn và phát triển.
2. Nội dung
Làng Việt Nam được hình thành từ rất sớm, gắn liền với quá trình chuyển đổi từ mô công xã thị tộc sang công xã nông thôn và trở thành đơn vị tụ cư, "điểm cư dân truyền thống" của người Việt tồn tại bền vững cho đến ngày nay. Ở đồng bằng Bắc Bộ, làng được hình thành gắn với quá trình định cư, khi con người chuyển từ săn bắn sang sản xuất nông nghiệp đòi hỏi đời sống quần cư, cách đây khoảng 4000 năm. Làng sau này còn hình thành do sự di cư, định cư của các dòng họ; do sự thiết lập các trang trại, đồn điền của nhà nước phong kiến. Còn ở Trung Bộ, Nam Bộ, sự hình thành làng diễn ra muộn hơn gắn với lịch sử mở mang bờ cõi của triều đại nhà Nguyễn (khoảng thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII). Làng trở thành đơn vị hành chính cấp cơ sở từ thế kỉ VII thời kì Bắc thuộc, do nhà Đường (785 - 804) cố gắng gộp các làng Việt Cổ thành đơn vị cấp "hương" nhưng chưa hoàn toàn thành công. Đến thế kỉ X, làng xã chính thức thành đơn vị hành chính cấp cơ sở (gọi là xã) dưới quyền quản lý của nhà nước phong kiến Việt Nam và được củng cố vững chắc qua các triều đại phong kiến cho đến thời Pháp thuộc. Đến thế kỉ XIX thực dân Pháp thực thi "lệ làng hóa phép nước", đưa pháp luật của nhà nước vào trong "lệ làng", làng bị biến thành mô hình hành chính thấp nhất theo mô hình phương Tây. Sau cách mạng tháng 8 thành công, xã trở thành đơn vị hành chính cơ sở, các "hợp tác xã" được hình thành nhằm tập thể hóa sức lao động và tư liệu sản xuất. Trải qua quá trình phát triển lâu dài và có những thay đổi trong lịch sử, nhưng "làng - xã" vẫn là điểm cư trú bền vững của cư dân Việt; với cơ cấu tương đối ổn định, văn hóa làng xã được hình thành, phát triển trở thành nơi vừa nuôi dưỡng, vừa bảo vệ, giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam. Văn hóa Việt Nam mà cái hồn cốt, tinh túy của nó được thể hiện trước hết ở văn hóa làng xã. Vì thế "không có làng xã Việt Nam thì không có quốc gia Việt Nam" [2].
Làng xã Việt Nam là một cộng đồng đa chức năng: là đơn vị cư trú lâu đời của cư dân Việt có có vị trí địa lý xác định, là một đơn vị kinh tế có tư liệu sản xuất bao gồm ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác thuộc sở hữu của hộ gia đình (trong đó gia đình là đơn vị sản xuất chủ yếu), đồng thời còn có tư liệu sản xuất thuộc sở hữu chung của cả làng (chế độ ruộng công: ruộng quan, ruộng đình, ruộng chùa, ruộng họ...); có cơ cấu tổ chức, thể chế và quan hệ xã hội đan xen, ràng buộc; có hệ thống các giá trị văn hóa đặc trưng thể hiện qua các hình thức văn hóa vật thể (đình, đền, chùa, miếu, nhà thờ họ, cổng làng, giếng làng, chợ, nghĩa địa, cây cổ thụ...) và văn hóa phi vật thể (phong tục tập quán, lễ hội, chuẩn mực ứng xử, nếp sống...). Văn hóa làng xã được hình thành trên cơ sở cơ cấu tổ chức và các đặc trưng của làng; đồng thời được lưu giữ và phát triển thông qua các sinh hoạt vật chất và tinh thần của cộng đồng. Làng xã có một hệ thống giá trị văn hóa riêng, tương đối bền vững và là sự biểu hiện rõ nét, sâu sắc các đặc trưng của văn hóa Việt Nam. Cái gốc của văn hóa Việt Nam được xây dựng từ văn hóa làng, mà trước hết từ trong mỗi gia đình Việt. Các đặc trưng văn hóa làng xã có thể kể đến những đặc điểm nổi bật như sau:
Trước hết là tính cộng đồng cao, tính cố kết bền chặt - đây là đặc điểm tiêu biểu của văn hóa làng xã. Đặc điểm này được hình thành do tính "cộng cư" của làng cả về phương diện cư trú và đặc điểm kinh tế. Do đặc trưng của sản xuất nông nghiệp với nền sản xuất nhỏ tự cấp tự túc, đòi hỏi cư dân cần hỗ trợ nhau trong mọi hoạt động sống từ việc chung của làng như trị thủy, làm đường, sinh hoạt cộng đồng đến việc riêng như trồng cấy, xây nhà, dựng cửa, ma chay, cưới hỏi... Điều đó làm cho cá nhân trở thành một bộ phận không tách rời cộng đồng, và có mối quan hệ ràng buộc bền chặt với cộng đồng: gần nhất là quan hệ họ hàng, ruột thịt đến quan hệ hàng xóm, láng giềng, rồi đến tổ chức phường, hội... Do đó, phẩm giá cá nhân gắn chặt với các chuẩn mực giá trị của cộng đồng, được nhìn nhận trước hết từ trách nhiệm và nghĩa vụ với cộng đồng. Người Việt truyền thống trước hết là con người của gia đình, sau đó là của dòng họ, rồi đến của làng, của nước. Vì vậy, tình cảm và nghĩa vụ đối với cộng đồng là thiêng liêng, cao cả của con người: với gia đình (hiếu nghĩa, thủy chung, thương yêu, đùm bọc), với họ hàng "một giọt máu đào hơn ao nước lã", với hàng xóm "bán anh em xa mua láng giềng gần", với làng "Anh đi anh nhớ quê nhà, nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương". Tình yêu gia đình, yêu làng của người Việt chính là cơ sở của tình yêu nước; sự cố kết cộng đồng từ trong làng chính là cơ sở cho tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam. Cho nên mỗi khi Tổ quốc lâm nguy, người Việt sẵn sàng hy sinh bảo vệ đất nước trước hết là để bảo vệ mảnh đất quê hương, bảo vệ người thân, bảo vệ cái hồn cốt của làng chính là thực hiện trách nhiệm làm người và giữ lòng tự trọng của chính mình.
Bên cạnh tính cộng đồng, cố kết bền chặt thì ý thức tự trị, tự quản cũng là một đặc điểm của cộng đồng làng xã. Do vị trí địa lý xác định, có chế độ ruộng công, có thể chế xã hội tự quản: làng có luật lệ riêng (hương ước), và các sinh hoạt cộng đồng độc lập, cho nên mỗi làng xã đều là tổ chức tự vận hành một cách độc lập. Pháp luật của nhà nước tồn tại song hành cùng với "lệ làng", và "lệ làng cao hơn phép nước". Các thành viên trong cộng đồng đều có ý thức tuân thủ luật lệ, các nguyên tắc và chuẩn mực chung của làng xã để vận hành đời sống của mình. Đặc điểm tự trị vừa tạo ra tính cố kết cộng đồng, trong đó đời sống và thể diện của cá nhân gắn chặt với cộng đồng của mình; mặt khác lại tạo ra sự phân biệt, tư tưởng cục bộ: xóm này xóm kia, họ này họ kia, làng này làng kia, dân chính cư và dân ngụ cư... Đây cũng là nguyên nhân cho "tâm lý tiểu nông" của người Việt, bên cạnh nguyên nhân là so sản xuất nhỏ lẻ, thì tính tự trị làng xã cũng tạo nên tâm lý phân biệt, cục bộ, hẹp hòi, ích kỉ, thụ động.
Mỗi làng xã có đặc trưng, diện mạo văn hóa riêng. Mỗi làng Việt truyền thống đều có "diện mạo" đặc trưng thể hiện qua các hình ảnh: cây đa, bến nước, sân đình, cổng làng, đền chùa, miếu mạo - nơi diễn ra các sinh hoạt tinh thần của cộng đồng làng. Mỗi làng cũng có những "nghề" khác nhau (các làng nghề truyền thống: dệt may, khắc chạm, đồ gỗ, đá quý...), những quy định, nếp sống khác nhau, các phong tục, tập quán, lễ hội (đua thuyền, bắt vịt, thổi cơm,...) của làng vừa thể hiện cách thức sống, sinh hoạt, lối sống của dân làng, vừa thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan, quan niệm về cuộc sống và các giá trị làm người. Mỗi làng cũng có những sáng tạo riêng về nghệ thuật (tranh vẽ, âm nhạc, ca múa, hát...) và niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau. Tất cả tạo nên tính phức hợp, đa dạng mà lại tương dung, tương hợp trong văn hóa làng. Giá trị văn hóa Việt Nam thể hiện trong văn hóa làng có nhiều nét chung nhưng lại vô cùng phong phú, sống động, đa dạng. Muốn cảm nhận chiều sâu và sự đa dạng của văn hóa Việt Nam chỉ có cách đi vào văn hóa làng để ở đó thấy được bề dày của văn hóa nhiều tầng lớp về mặt thời gian, và sự vô hạn về giá trị mặc dù có giới hạn trong không gian địa lý.
Việc sáp nhập các đơn vị hành chính cấp xã không chỉ là sự thay đổi địa giới hành chính mà còn tạo ra những thay đổi trong cấu trúc kinh tế - xã hội, từ đó tạo ra không gian phát triển mới cho văn hóa làng xã. Trước hết, sự hình thành các đơn vị hành chính cấp xã mới làm thay đổi cấu trúc tổ chức hành chính, dẫn đến cần tổ chức lại bộ máy, sắp xếp lại các yếu tố về cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực theo hướng tập trung, hiệu quả hơn nhưng không phá vỡ cấu trúc văn hóa làng xã. Đơn vị cơ sở của văn hóa làng xã là "làng" vẫn đang được giữ lại, trong đó hệ thống các giá trị văn hóa làng xã được bảo tồn, duy trì qua các hình thái văn hóa vật thể (đình, chùa, miếu mạo, giếng nước, gốc đa, làng nghề...) và văn hóa phi vật thể ( phong tục tập quán, truyền thống, lễ hội, nghệ thuật...). Các quan hệ xã hội quan hệ gia đình, dòng họ, quan hệ láng giềng, quan hệ nghề nghiệp, quan hệ tín ngưỡng, tôn giáo..., tồn tại đan xen, cùng vận hành tạo nên cấu trúc bền vững của quan hệ văn hóa làng xã. Các giá trị văn hóa làng xã như tính cố kết cộng đồng bền chặt, tính tự trị, tự quản, các sắc thái văn hóa riêng của từng làng được lưu giữ trong chính các sinh hoạt vật chất, cũng như sinh hoạt tinh thần của cộng đồng làng, xã; trong cách thức con người giao tiếp, ứng xử với nhau, thực hiện các quyền lợi và trách nhiệm trong các mối quan hệ xã hội. Ở trong đó, các giá trị văn hóa không phải vật khảo cổ để chiêm ngưỡng, nghiên cứu mà "sống", vận động trong đời sống của cộng đồng. Cho nên, việc sát nhập hình thành đơn vị hành chính cấp xã mới không ảnh hưởng đến cấu trúc và hệ thống các giá trị văn hóa làng xã.
Ngược lại, sự hình thành các đơn vị hành chính cấp xã mới định hình lại không gian phát triển của các địa phương, hình thành những trung tâm hành chính - kinh tế mới còn tạo ra không gian phát triển mới cho văn hóa làng xã. Những đơn vị "xã mới" hiện nay với diện tích lớn hơn, quy mô dân số đông hơn, không gian kinh tế được mở rộng và việc sắp xếp, xây dựng cơ sở hạ tầng, nguồn lực có tính liên kết đã tạo ra môi trường cho sự giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng làng xã trước đây. Khi không gian địa lý được mở rộng đồng thời cũng mở ra không gian cho văn hóa phát triển, xóa nhòa đi khoảng cách, sự phân biệt về mặt tâm lý giữa các cộng đồng cư dân làng, xã; các cộng đồng có cơ hội mang những giá trị, sắc thái văn hóa đặc sắc, độc đáo để giao lưu, bổ sung, làm giàu thêm các giá trị văn hóa. Đồng thời đó cũng là cơ sở cho sự phát triển hệ thống thiết chế văn hóa đồng bộ, liên thông và hiện đại. Cùng với chiến lược phát triển nông thôn mới trong bối cảnh chuyển đổi số sâu rộng, mạnh mẽ hiện nay, mô hình cấp xã mới có cơ hội để phát triển mô hình: "xã thông minh - xã văn hóa - xã sáng tạo". Việc ứng dụng công nghệ để đảm bảo sự vận hành tổ chức cấp xã có tính liên thông, đồng bộ, hiện đại, đồng thời giúp văn hóa trở thành yếu tố cốt lõi trong các hoạt động quy hoạch, giáo dục, du lịch, kinh tế. Trong bối cảnh đó, xã trở thành trung tâm văn hóa cộng đồng, nơi không chỉ tạo ra sự giao lưu giữa các giá trị văn hóa của cộng đồng làng, xã mà còn tạo ra môi trường giao lưu giữa các giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại, dân tộc và thế giới nhằm phát triển nền văn hóa Việt Nam "tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc". Cũng trong quá trình đó, những yếu tố có tính chất bảo thủ, lạc hậu phát sinh từ văn hóa làng xã do không gian địa lý, cấu trúc của làng xã trong lịch sử hình thành nên như: tâm lý tiểu nông, tâm lý cục bộ, địa phương, tâm lý ỷ lại, dựa dẫm... sẽ mất dần cơ sở để tồn tại trong một không gian văn hóa sống động, đầy sáng tạo.
Như vậy, việc hình thành đơn vị hành chính cấp xã mới sau quá trình sát nhập đã tạo ra những cơ sở kinh tế - xã hội cho sự phát triển văn hóa làng xã nói riêng, văn hóa Việt Nam nói chung. Đây là một cơ hội quý cho việc tái cấu trúc không gian văn hóa Việt Nam từ chính cấp xã - nơi lưu giữ bền vững các giá trị văn hóa cốt lõi của cộng đồng người Việt, đồng thời lại mang tiềm năng sáng tạo, phát triển. Cho nên, việc xây dựng và phát triển văn hóa để tạo động lực cho sự phát triển đất nước bền vững cần xuất phát từ việc bảo tồn và phát triển văn hóa làng, xã, trong đó cấp xã mới có vai trò quyết định trong quá trình này. Bởi đây là một đơn vị hành chính cấp cơ sở gần dân nhất, có cơ hội nắm bắt, hiểu rõ hơn nhu cầu của nhân dân, và những chuyển động tinh tế nhất từ cộng đồng cư dân để kịp thời định hướng, ban hành các chương trình phát triển văn hóa phù hợp. Do đó đòi hỏi sự phân cấp, phân quyền và giao trách nhiệm phù hợp cho đơn vị quản lý hành chính, cấp xã; đồng thời cần đầu tư đúng mức cho các chương trình văn hóa cộng đồng từ hạ tầng, giao thông đến công nghệ, và đặc biệt là nguồn nhân lực, đội ngũ quản lý văn hóa, các cộng đồng văn hóa địa phương (các nghệ nhân, các làng nghề, lễ hội, phong tục tập quán...). Phát triển văn hóa từ cấp xã chính là phát triển từ gốc rễ, từ cái gốc đó để xây dựng nền văn hóa hiện đại mà không mất đi bản sắc; hội nhập mà không hòa tan, để văn hóa thực sự trở thành động lực cho phát triển.
3. Kết luận
Trong quá trình sát nhập, sắp xếp lại các đơn vị hành chính cấp xã, văn hóa làng xã không mất đi mà còn được mở ra không gian phát triển mới vừa giữ gìn bản sắc vừa có cơ hội sáng tạo, phát triển. Tuy nhiên để đơn vị hành chính cấp xã mới thực sự trở thành không gian cho phát triển văn hóa cần đảm bảo vai trò quản lý của Nhà nước và tự quản của cộng đồng, giữa phát triển hạ tầng và gìn giữ giá trị văn hóa địa phương. Làng xã không chỉ là đơn vị cư trú, là không gian sống mà còn là không gian văn hóa, nơi con người được tạo điều kiện để trưởng thành trong chính truyền thống của cộng đồng mình, đồng thời trong những chuyển mình của thời đại. Vì vậy mọi sự đổi thay trong chính sách tác động đến cấu trúc kinh tế - xã hội của làng xã, dù là nhỏ nhất đều cần phải tính đến "các giá trị văn hóa đặc thù của làng Việt, không để mất đi hồn cốt làng trong guồng quay của phát triển. Bởi, nếu mất đi bản sắc làng, chúng ta cũng sẽ mất một phần căn cước văn hóa dân tộc" [1]
TS. Đào Thị Hữu
Khoa Lý luận chính trị, Học viện Ngân hàng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Tuấn Anh (2025): Từ truyền thống đến đương đại: Làng xã Việt Nam dưới lăng kính biến đổi xã hội. Nguồn: https://ordi.vn
[2]Phan Đại Doãn (2010): Làng xã Việt Nam - Một vấn đề kinh tế - văn hóa - xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[3] Đảng Cộng Sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập II), NXB Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2026.
[4] Đào Tri Úc (2003): Hương ước trong quá trình thực hiện dân chủ ở nông thôn Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.