Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về phát triển văn hóa, bài viết phân tích sự cần thiết phải phát huy văn hóa trong bối cảnh mới; làm rõ vai trò của văn hóa Việt Nam với tư cách là nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm quốc gia; đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy giá trị văn hóa, xây dựng con người Việt Nam, tăng cường sức mạnh mềm, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển đất nước nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
1. Đặt vấn đề
Trong Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển Văn hóa chỉ rõ: "Văn hóa Việt Nam là những giá trị tốt đẹp của dân tộc trong tiến trình hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước; là nguồn lực nội sinh quan trọng hun đúc trí tuệ, tâm hồn, khí phách và bản lĩnh người Việt Nam" [1]. Văn hóa không chỉ tạo nên bản sắc và sức sống của dân tộc, văn hóa còn là nhân tố quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa với kinh tế, chính trị và toàn bộ đời sống xã hội. Trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác – Lêmin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra quan niệm về văn hóa: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" [2]. Kế thừa và phát triển những quan điểm đó, trong 40 năm đổi mới Đảng ta đã có bước phát triển quan trọng trong tư duy, nhận thức về văn hóa: "Coi văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực của sự phát triển. Chủ trương xây dựng một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được đẩy mạnh thực hiện trong thực tế. Các lĩnh vực văn hoá đều có bước phát triển mới. Vai trò của văn hoá góp phần vào sự phát triển bền vững được khẳng định và thể hiện ngày càng rõ hơn" [3].
Bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Việt Nam đứng trước những thời cơ và thách thức mới. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng đang làm thay đổi phương thức phát triển, đồng thời tạo ra sự cạnh tranh ngày càng gay gắt không chỉ về kinh tế, khoa học, công nghệ hay nguồn nhân lực chất lượng cao mà còn về giá trị, bản sắc văn hóa và sức mạnh mềm quốc gia. Trong bối cảnh đó, sức mạnh của một quốc gia không chỉ được đo bằng tiềm lực kinh tế, quốc phòng hay khoa học - công nghệ mà còn được thể hiện ở khả năng lan tỏa các giá trị văn hóa, xây dựng hình ảnh quốc gia và tạo dựng niềm tin, sự hấp dẫn trong quan hệ quốc tế. Điều đó đòi hỏi Việt Nam phải phát huy hiệu quả các giá trị văn hóa dân tộc, biến văn hóa thành nguồn lực nội sinh quan trọng và sức mạnh mềm góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Sự cần thiết phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc là giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao, hội nhập sâu rộng và có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, bên cạnh việc phát huy các nguồn lực về kinh tế, khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao, việc phát triển văn hóa trở thành yêu cầu khách quan và cấp thiết. "Phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, đông lự to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh về bền vững đất nước" [4].
Thứ nhất, quá trình hội nhập quốc tế ngày càng toàn diện, sâu rộng đòi hỏi văn hóa phải trở thành nguồn lực nội sinh cốt lõi và sức mạnh mềm chiến lược của quốc gia. Bởi vì, trong bối cảnh hiện nay sức mạnh của một quốc gia không chỉ được quyết định bởi tiềm lực kinh tế, quốc phòng hay khoa học - công nghệ mà còn được đánh giá thông qua khả năng lan tỏa các giá trị văn hóa, xây dựng hình ảnh quốc gia, tạo dựng niềm tin và sức hấp dẫn trong quan hệ quốc tế. Vì vậy, phát triển văn hóa không còn là lĩnh vực mang tính tinh thần đơn thuần mà đã trở thành nguồn lực phát triển quan trọng, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, gia tăng uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Thứ hai, yêu cầu giữ vững ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững đặt ra đòi hỏi phải phát huy vai trò "điều tiết" của văn hóa trong đời sống xã hội. Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng cùng với sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng và các nền tảng số xuyên biên giới tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu, tiếp biến văn hóa, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng nguy cơ xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại, sự lệch chuẩn về đạo đức, lối sống và những biểu hiện phai nhạt bản sắc văn hóa dân tộc. Trong bối cảnh đó, phát triển văn hóa không chỉ nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống mà còn góp phần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, tạo dựng "thế trận lòng dân" vững chắc. "Hệ điều tiết" của văn hóa có nghĩa là định hướng hành vi xã hội, nâng cao sức đề kháng trước các tác động tiêu cực của toàn cầu hóa, bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và giữ vững bản sắc dân tộc.
Thứ ba, yêu cầu xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới làm cho việc phát triển văn hóa trở thành nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược. Con người vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là mục tiêu của sự phát triển; trong khi đó, văn hóa là môi trường nuôi dưỡng nhân cách, bồi đắp tri thức, đạo đức, lối sống và khơi dậy khát vọng cống hiến. Việc xây dựng và thực hiện hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam sẽ góp phần hình thành những công dân có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, trách nhiệm xã hội, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng thích ứng với những biến đổi của thời đại số. Chỉ khi văn hóa thực sự thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần và động lực phát triển con người thì mới có thể phát huy hiệu quả nguồn lực con người để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045.
2.2. Văn hóa Việt Nam với vai trò là nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm quốc gia
Đất nước ta trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, văn hóa đã trở thành cội nguồn tạo nên bản sắc dân tộc, hun đúc ý chí độc lập, tự cường, tinh thần đoàn kết và khát vọng vươn lên của dân tộc. Bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, khi yêu cầu phát triển nhanh và bền vững ngày càng đặt ra cấp thiết, văn hóa không chỉ được nhìn nhận là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng, là sức mạnh mềm quốc gia, văn hóa phải được đặt ngang tầm với kinh tế, chính trị; để góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp, nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế.
Thứ nhất, văn hóa Việt Nam tạo dựng nguồn lực nội sinh quan trọng cho sự phát triển đất nước.
Nguồn lực nội sinh được hiểu là tổng hợp những giá trị, tiềm năng và sức mạnh được hình thành từ bên trong quốc gia, dân tộc, có khả năng huy động và chuyển hóa thành động lực phát triển. Trong các nguồn lực nội sinh, văn hóa giữ vai trò đặc biệt bởi đây là nền tảng hình thành hệ giá trị, định hướng tư duy, điều chỉnh hành vi và tạo nên sức mạnh tinh thần của cộng đồng. Không giống các nguồn lực vật chất có thể bị suy giảm trong quá trình khai thác, giá trị văn hóa càng được bảo tồn, phát huy và lan tỏa thì càng tạo ra sức mạnh mới cho sự phát triển.
Văn hóa tạo dựng hệ giá trị quốc gia, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường và khát vọng phát triển dân tộc. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh trong những thời điểm cam go nhất của sự nghiệp dựng nước và giữ nước, chính những giá trị văn hóa được hun đúc qua nhiều thế hệ như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, nhân nghĩa, khoan dung, ý chí vượt khó và khát vọng độc lập, tự do đã trở thành sức mạnh tinh thần to lớn giúp dân tộc vượt qua mọi thử thách. Đồng thời, văn hóa là môi trường quan trọng để hình thành và phát triển con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới. Con người vừa là chủ thể sáng tạo văn hóa, vừa là chủ thể của quá trình phát triển; vì vậy, phát triển văn hóa thực chất là phát triển con người.
Một nền văn hóa lành mạnh sẽ góp phần hình thành nhân cách, bồi dưỡng trí tuệ, đạo đức, lối sống, ý thức trách nhiệm, năng lực sáng tạo và bản lĩnh hội nhập của mỗi cá nhân. Không chỉ tạo dựng nguồn lực con người, văn hóa còn tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế, góp phần hình thành những động lực tăng trưởng mới. Trong nền kinh tế tri thức và kinh tế sáng tạo, giá trị văn hóa ngày càng được chuyển hóa thành giá trị kinh tế thông qua các ngành công nghiệp văn hóa, du lịch văn hóa, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, thiết kế sáng tạo, quảng cáo, xuất bản, trò chơi điện tử, thời trang và các sản phẩm văn hóa số. Đây là những lĩnh vực không chỉ tạo ra giá trị gia tăng cao mà còn góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra thế giới.
Thứ hai, văn hóa còn là sức mạnh mềm quan trọng, góp phần nâng cao vị thế, uy tín và sức ảnh hưởng của đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Nếu sức mạnh cứng được tạo nên từ tiềm lực kinh tế, quốc phòng, khoa học và công nghệ thì sức mạnh mềm được hình thành từ sức hấp dẫn của các giá trị văn hóa, hệ giá trị quốc gia, bản sắc dân tộc, chất lượng thể chế và hình ảnh của một quốc gia trong cộng đồng quốc tế. Đối với Việt Nam, sức mạnh mềm không chỉ được xây dựng trên nền tảng truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời mà còn được bồi đắp từ những giá trị của một dân tộc yêu chuộng hòa bình, nhân nghĩa, đoàn kết, kiên cường, giàu khát vọng phát triển và luôn chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Đây là nguồn lực đặc biệt, không tạo ra ảnh hưởng bằng sự áp đặt hay cưỡng chế mà bằng sức hấp dẫn, sự đồng cảm và niềm tin.
Sức mạnh mềm của Việt Nam được biểu hiện trước hết ở khả năng lan tỏa các giá trị văn hóa và hình ảnh quốc gia thông qua hoạt động đối ngoại và giao lưu quốc tế. Trong những năm qua, cùng với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, ngoại giao văn hóa đã từng bước trở thành một trong những trụ cột quan trọng của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại. Thông qua các hoạt động quảng bá văn hóa, nghệ thuật, ngôn ngữ, ẩm thực, lễ hội truyền thống, cũng như việc giới thiệu hình ảnh đất nước, con người Việt Nam tới bạn bè quốc tế, nhiều giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc đã được lan tỏa rộng rãi, góp phần xây dựng hình ảnh một Việt Nam hòa bình, ổn định, thân thiện, giàu bản sắc và năng động.
Một trong những nguồn lực quan trọng tạo nên sức mạnh mềm của Việt Nam là hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú, phản ánh chiều sâu lịch sử và bản sắc của dân tộc. "Hiện nay, Việt Nam đã có 8 di sản thế giới, 15 di sản văn hoá phi vật thể, 9 di sản văn hoá tư liệu, 11 khu dự trữ sinh quyển thế giới, 3 công viên địa chất toàn cầu UNESCO và các danh hiệu khác như thành phố sáng tạo, thành phố học tập toàn cầu" [5]. Các di sản văn hóa không chỉ có giá trị về lịch sử, nghệ thuật và giáo dục mà còn là "tài sản chiến lược" trong việc quảng bá hình ảnh quốc gia, thu hút khách du lịch, thúc đẩy giao lưu nhân dân và tăng cường hiểu biết giữa Việt Nam với cộng đồng quốc tế.
Cùng với đó, những giá trị văn hóa đặc sắc như: áo dài, ẩm thực, nghệ thuật truyền thống, tinh thần hiếu học, lòng nhân ái và lối sống nghĩa tình đã góp phần tạo nên bản sắc riêng, làm nên sức hấp dẫn của Việt Nam trong quá trình hội nhập. Trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển kinh tế sáng tạo, sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam còn được mở rộng thông qua các ngành công nghiệp văn hóa và không gian số. Sự phát triển của điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, thiết kế, thời trang, trò chơi điện tử, nội dung số và các nền tảng truyền thông đã tạo ra những phương thức mới để truyền tải và lan tỏa các giá trị văn hóa Việt Nam đến công chúng trong nước và quốc tế.
Tuy nhiên, sức mạnh mềm của văn hóa chỉ có thể được phát huy khi được đặt trên nền tảng của bản sắc dân tộc và sự phát triển bền vững. Trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng, việc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại cần được thực hiện trên cơ sở giữ vững bản sắc văn hóa Việt Nam, bảo đảm sự thống nhất: "Giữa xây và chống; truyền thống và hiện đại; dân tộc và quốc tế; bảo tồn và phát triển; đại chúng và bác học; đời sống thực và không gian số; dữ lệu mở và bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hóa số" [6].
2.3. Một số giải pháp phát huy văn hóa Việt Nam là nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Trước hết, tiếp tục nâng cao nhận thức và hoàn thiện thể chế về phát triển văn hóa, bảo đảm văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm quốc gia trong quá trình phát triển đất nước.
Nhận thức đúng đắn giữ vai trò quyết định trong việc hoạch định chủ trương, chính sách và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển văn hóa. Vì vậy, cần tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xác định phát triển văn hóa ngang tầm với phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành, các cấp, các ngành cần chuyển mạnh từ tư duy xem văn hóa chủ yếu là lĩnh vực phục vụ đời sống tinh thần sang tư duy coi văn hóa là nguồn lực chiến lược của phát triển, có khả năng tạo động lực, điều tiết sự phát triển và gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia.
Cùng với đó, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về phát triển văn hóa theo hướng đồng bộ, hiện đại và phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Trọng tâm là xây dựng cơ chế huy động hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước và xã hội cho phát triển văn hóa; có chính sách ưu tiên đầu tư đối với các lĩnh vực có khả năng tạo giá trị gia tăng cao như công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, phát triển nguồn nhân lực văn hóa chất lượng cao.
Bên cạnh việc hoàn thiện thể chế, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả thực hiện các chủ trương, chính sách về văn hóa; kịp thời phát hiện, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân trong việc giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc; xây dựng ý thức tôn trọng pháp luật, chuẩn mực đạo đức và lối sống văn minh. Chỉ khi nhận thức được thống nhất, thể chế được hoàn thiện và tổ chức thực hiện hiệu quả thì văn hóa mới thực sự phát huy vai trò là nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Thứ hai, tập trung xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Con người vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là chủ thể hưởng thụ văn hóa, đồng thời vừa là mục tiêu cao nhất của sự phát triển. Do đó, phát huy vai trò của văn hóa với tư cách là nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm quốc gia trước hết phải bắt đầu từ việc xây dựng con người Việt Nam có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt đẹp, lối sống văn minh, năng lực đổi mới sáng tạo, tinh thần trách nhiệm xã hội và khả năng thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của thời đại số. Đây là nhân tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực, sức mạnh nội sinh và năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.
Để thực hiện mục tiêu đó, cần tiếp tục cụ thể hóa và triển khai hiệu quả việc xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Trong đó, cần chú trọng bồi đắp các giá trị cốt lõi như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí tự cường dân tộc, trách nhiệm công dân, trung thực, nhân ái, nghĩa tình, kỷ cương, sáng tạo và khát vọng cống hiến. Những giá trị này cần được thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thông qua giáo dục, truyền thông, hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật và các phong trào thi đua yêu nước, góp phần hình thành môi trường văn hóa lành mạnh, tạo sự thống nhất giữa nhận thức và hành động của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng.
Bên cạnh đó, cần quan tâm xây dựng đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, nhà khoa học và những người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa có trình độ chuyên môn cao, bản lĩnh chính trị vững vàng, trách nhiệm xã hội và khả năng sáng tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển văn hóa trong điều kiện mới. Có cơ chế phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, thu hút và trọng dụng nhân tài; khuyến khích đổi mới sáng tạo, phát triển các sản phẩm văn hóa có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, góp phần lan tỏa những giá trị tốt đẹp của dân tộc, xây dựng hình ảnh con người Việt Nam hiện đại nhưng vẫn giàu bản sắc văn hóa.
Thứ ba, đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số và ngoại giao văn hóa.
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, việc phát huy giá trị văn hóa không chỉ dừng lại ở bảo tồn và gìn giữ mà cần được chuyển hóa thành nguồn lực phát triển và lợi thế cạnh tranh quốc gia. Đây là yêu cầu tất yếu nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng của văn hóa, đồng thời nâng cao sức hấp dẫn, uy tín và ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế.
Trước hết, cần tập trung phát triển các ngành công nghiệp văn hóa theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp và có khả năng cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới. Trên cơ sở phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, cần ưu tiên phát triển các lĩnh vực có nhiều tiềm năng như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, nhiếp ảnh, thời trang, thiết kế sáng tạo, quảng cáo, xuất bản, du lịch văn hóa, trò chơi điện tử, nội dung số và các loại hình dịch vụ văn hóa mới. Đồng thời, khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và đội ngũ văn nghệ sĩ, nhà sáng tạo trong việc hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, từng bước xây dựng các thương hiệu văn hóa Việt Nam có giá trị và sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Cùng với quá trình này, cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn, khai thác và lan tỏa các giá trị văn hóa dân tộc. Việc ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, thực tế ảo và các nền tảng số trong số hóa di sản, xây dựng bảo tàng số, thư viện số, không gian triển lãm trực tuyến và các sản phẩm văn hóa số sẽ góp phần mở rộng khả năng tiếp cận của công chúng, đồng thời tạo ra những phương thức mới để quảng bá văn hóa Việt Nam trong và ngoài nước. Chuyển đổi số không chỉ làm gia tăng giá trị kinh tế của các sản phẩm văn hóa mà còn góp phần đưa văn hóa Việt Nam hòa nhập với dòng chảy của kinh tế sáng tạo toàn cầu.
Ngoài ra, cần tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác ngoại giao văn hóa, coi đây là một trong những kênh quan trọng để gia tăng sức mạnh mềm quốc gia. Cần kết hợp chặt chẽ ngoại giao văn hóa với ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế trên 3 trụ cột đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân; chủ động giới thiệu những giá trị đặc sắc của văn hóa Việt Nam thông qua các hoạt động giao lưu văn hóa, nghệ thuật, các sự kiện quốc tế, các trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài và hệ thống truyền thông số. Khi văn hóa được phát triển trên nền tảng chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, không chỉ tạo thêm động lực cho tăng trưởng kinh tế mà còn nâng cao sức mạnh mềm, củng cố vị thế và uy tín của Việt Nam, tạo nền tảng quan trọng để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Thứ tư, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội trong xây dựng, phát triển văn hóa.
Phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân, cả hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, do Nhân dân làm chủ. Phát huy vai trò tham gia tích cực của các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng doanh nghiệp, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ và mỗi người dân. Vì vậy, để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm quốc gia, cần huy động đồng bộ các nguồn lực xã hội, phát huy vai trò, trách nhiệm của từng chủ thể trong xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nhân văn và sáng tạo.
Để thực hiện điều này cần tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo của các cấp ủy đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa; đưa các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển văn hóa trở thành nội dung quan trọng trong chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Đồng thời, tăng cường sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa; kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách nhằm tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động sáng tạo và phát triển văn hóa.
Cùng với đó, cần đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa, khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân đầu tư cho phát triển văn hóa, đặc biệt là các dự án bảo tồn di sản, phát triển công nghiệp văn hóa, sáng tạo nghệ thuật và xây dựng các thiết chế văn hóa hiện đại. Doanh nghiệp không chỉ là chủ thể tạo ra của cải vật chất mà còn cần xây dựng và phát huy văn hóa doanh nghiệp, đạo đức kinh doanh, trách nhiệm xã hội và bản sắc thương hiệu Việt Nam. Đây là những yếu tố góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, đồng thời lan tỏa hình ảnh tích cực của Việt Nam trong tiến trình hội nhập và phát triển.
Mặt khác, cần phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan báo chí, truyền thông, đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức và các nhà khoa học trong tuyên truyền, giáo dục, bảo tồn, sáng tạo và "kiểm định" những giá trị mới của văn hóa. Đặc biệt, cần khai thác hiệu quả các nền tảng số và phương tiện truyền thông hiện đại để lan tỏa những giá trị tích cực, xây dựng không gian văn hóa số lành mạnh, góp phần nâng cao "sức đề kháng" văn hóa trước những sản phẩm độc hại, thông tin sai lệch và các biểu hiện lệch chuẩn về đạo đức, lối sống. Đồng thời, phát huy vai trò của gia đình, nhà trường và cộng đồng trong giáo dục truyền thống, hình thành lối sống văn minh, ý thức chấp hành pháp luật và trách nhiệm xã hội cho thế hệ trẻ, qua đó tạo nền tảng bền vững cho việc xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ mới.
3. Kết luận
Văn hóa Việt Nam là kết tinh những giá trị bền vững được hình thành và bồi đắp trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, hội nhập quốc tế sâu rộng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia ngày càng trở nên cấp thiết, văn hóa càng khẳng định vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời là nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm quan trọng của quốc gia. Với khả năng khơi dậy khát vọng phát triển, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát triển con người, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, gia tăng sức hấp dẫn của hình ảnh quốc gia và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, văn hóa đã và đang trở thành một trong những động lực quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn phát triển mới.
Để văn hóa thực sự phát huy vai trò là nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm quốc gia, cần tiếp tục quán triệt và triển khai đồng bộ các quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; đặt phát triển văn hóa ngang tầm với phát triển kinh tế, chính trị, xã hội; đồng thời phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phát triển con người Việt Nam toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số và ngoại giao văn hóa. Chỉ khi các giá trị văn hóa được khơi dậy, bảo tồn, sáng tạo và lan tỏa mạnh mẽ, văn hóa mới thực sự trở thành sức mạnh nội sinh bền vững, gia tăng sức mạnh mềm quốc gia, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và đưa Việt Nam tự tin bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Nguyễn Văn Lanh
Trường Sĩ quan Lục quân 1
Chú thích:
[1], [4], [6]. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, tr.1, 2, 3.
[2] Hồ Chí Minh (1943), Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội 2011, tr.458.
[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tr.205-206.
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tr.149.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Hà Nội.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội.
4. Hồ Chí Minh (1943), Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội 2011.
5. Nguyễn Thị Vân (2026), Một số nội dung cơ bản về phát triển văn hóa theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng, Tạp chí điện tử lý luận chính trị, https://lyluanchinhtri.vn/mot-so-noi-dung-co-ban-ve-phat-trien-van-hoa-theo-tinh-than-dai-hoi-xiv-cua-dang-13536.html, ngày 25/3/2026.