Quan điểm của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học ngày càng được bổ sung, phát triển toàn diện qua các kỳ đại hội và nghị quyết, thể hiện ở việc xác định đây là nhiệm vụ chiến lược; đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng; gắn chặt với chiến lược phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; đồng thời thực hiện đồng bộ các khâu đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ và mở rộng hợp tác quốc tế. Trên cơ sở làm rõ những nội dung cơ bản đó, cần tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học trong Quân đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao và năng lực sáng tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên số.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành động lực chủ yếu của sự phát triển quốc gia. Đảng Cộng sản Việt Nam xác định đây là đột phá chiến lược, giữ vai trò quyết định trong nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước. Trong tiến trình đó, đội ngũ cán bộ khoa học là lực lượng nòng cốt, trực tiếp nghiên cứu, sáng tạo tri thức, làm chủ công nghệ và cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định chủ trương, chính sách phát triển.
Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại đặt ra đòi hỏi cấp thiết phải phát triển đội ngũ cán bộ khoa học có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao, tư duy đổi mới và năng lực thích ứng với môi trường số. Đây là lực lượng quan trọng trong nghiên cứu khoa học quân sự, phát triển lý luận quốc phòng và tham gia hiện đại hóa quân đội. Nhận thức rõ điều đó, Đảng đã hình thành hệ thống quan điểm toàn diện về xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học gắn với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Làm rõ những quan điểm này có ý nghĩa quan trọng, tạo cơ sở đề xuất các giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học trong Quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Quan điểm của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học đáp ứng yêu cầu đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Nhận thức rõ tình hình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước bổ sung, phát triển và hoàn thiện quan điểm về xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học, coi đây là nội dung có ý nghĩa chiến lược trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước. Cụ thể trên các nội dung:
Một là, Đảng xác định xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học là nhiệm vụ chiến lược trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng về vai trò của nguồn lực con người trong thời đại kinh tế tri thức. Nếu trước đây khoa học chủ yếu được xem như một công cụ hỗ trợ sản xuất, thì trong bối cảnh hiện nay, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã trở thành động lực trực tiếp của tăng trưởng và phát triển. Theo đó, đội ngũ cán bộ khoa học không chỉ là lực lượng nghiên cứu chuyên môn mà còn là chủ thể sáng tạo tri thức mới, lực lượng nòng cốt trong làm chủ công nghệ, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 06/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X khẳng định: "Trí thức Việt Nam là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế"[1]. Quan điểm này đã đặt nền tảng cho nhận thức mới của Đảng về vị trí trung tâm của đội ngũ trí thức và cán bộ khoa học trong chiến lược phát triển đất nước. Đến Nghị quyết số 45-NQ/TW năm 2023, nhận thức đó tiếp tục được phát triển khi nhấn mạnh đội ngũ trí thức là "nguồn lực đặc biệt trong phát triển kinh tế tri thức, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế..."[2]. Đặc biệt, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị khẳng định: "Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia". Điều này cho thấy xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học không còn là yêu cầu mang tính hỗ trợ mà đã trở thành điều kiện tiên quyết để đất nước nắm bắt thời cơ phát triển trong kỷ nguyên số.
Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng. Đây là nguyên tắc cơ bản bảo đảm cho sự phát triển đúng hướng của đội ngũ này, đồng thời phản ánh đặc trưng của mô hình phát triển khoa học ở Việt Nam. Đối với Đảng, khoa học không phải là lĩnh vực tách rời mục tiêu chính trị - xã hội, mà luôn gắn chặt với yêu cầu phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, việc xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học phải bảo đảm sự thống nhất giữa trình độ chuyên môn với phẩm chất chính trị, giữa năng lực sáng tạo khoa học với trách nhiệm xã hội. Ngay từ Đại hội VI, Đảng đã nhấn mạnh: "Đảng và Nhà nước cố gắng tạo điều kiện thuận lợi để những người làm công tác khoa học, kỹ thuật hoạt động có kết quả"[3]. Đến Nghị quyết số 27-NQ/TW, quan điểm này được phát triển đầy đủ hơn khi khẳng định: "Xây dựng đội ngũ trí thức là trách nhiệm chung của toàn xã hội, của cả hệ thống chính trị, trong đó trách nhiệm của Đảng và Nhà nước giữ vai trò quyết định"[4]. Trong điều kiện mới, sự lãnh đạo của Đảng không chỉ thể hiện ở việc hoạch định chủ trương, chính sách mà còn ở yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học vừa có trình độ chuyên môn cao, vừa có bản lĩnh chính trị vững vàng. Nghị quyết số 45-NQ/TW nhấn mạnh đội ngũ trí thức cần "giàu lòng yêu nước, có đạo đức và lý tưởng cách mạng, gắn bó với Đảng, Nhà nước và dân tộc"[5]. Điều đó cho thấy tư tưởng "vừa hồng vừa chuyên" tiếp tục được vận dụng sáng tạo trong điều kiện đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Ba là, phát triển đội ngũ cán bộ khoa học phải gắn chặt với chiến lược phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đây là biểu hiện rõ nét của sự phát triển trong tư duy chiến lược của Đảng khi chuyển mạnh từ mô hình tăng trưởng dựa vào chiều rộng sang mô hình phát triển dựa trên chiều sâu, lấy tri thức và công nghệ làm động lực chính. Văn kiện Đại hội XIV xác định rõ yêu cầu: "Xác lập mô hình tăng trưởng mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là động lực chính"[6]. Quan điểm này khẳng định đội ngũ cán bộ khoa học là lực lượng trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Trong bối cảnh khoa học hiện đại phát triển theo xu hướng liên ngành, xuyên ngành và số hóa sâu rộng, đội ngũ cán bộ khoa học không chỉ cần năng lực chuyên môn sâu mà còn phải có tư duy đổi mới, khả năng hợp tác đa ngành, làm chủ các công nghệ số hiện đại như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và các nền tảng số mới. Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 tiếp tục nhấn mạnh mục tiêu phát triển nhanh và bền vững dựa trên "khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao"[7]. Điều này cho thấy phát triển đội ngũ cán bộ khoa học không thể tách rời chiến lược phát triển quốc gia trong thời đại số.
Bốn là, thực hiện đồng bộ các khâu đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ cán bộ khoa học. Đảng xác định xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học là một quá trình liên tục, mang tính hệ thống, đòi hỏi sự kết nối chặt chẽ giữa phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và trọng dụng nhân tài. Đây là điều kiện quan trọng để bảo đảm sự kế thừa và phát triển bền vững của nguồn nhân lực khoa học. Nghị quyết số 27-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu "xây dựng cơ chế, chính sách thực hiện có hiệu quả đào tạo tài năng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ trí thức và phát triển nhân tài cho đất nước"[8]. Quan điểm này cho thấy Đảng đặc biệt coi trọng việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài khoa học. Cùng với đó, Nghị quyết số 20-NQ/TW yêu cầu "xây dựng và thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng, đãi ngộ, tôn vinh đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ"[9]. Trong giai đoạn hiện nay, tư duy của Đảng đã có bước chuyển mạnh từ cách tiếp cận quản lý hành chính sang xây dựng môi trường học thuật dân chủ, cởi mở, lấy hiệu quả sáng tạo làm tiêu chí đánh giá. Nghị quyết số 45-NQ/TW tiếp tục khẳng định cần có cơ chế "ưu tiên, đột phá trong thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng, đãi ngộ nhân tài…"[10]. Đây là cơ sở quan trọng để đội ngũ cán bộ khoa học phát huy tối đa năng lực sáng tạo và cống hiến lâu dài.
Năm là, kết hợp phát triển đội ngũ cán bộ khoa học với mở rộng hợp tác quốc tế và xây dựng xã hội học tập. Trong thời đại toàn cầu hóa tri thức, khoa học phát triển thông qua mạng lưới hợp tác rộng mở, nơi tri thức được trao đổi, chuẩn hóa và đổi mới liên tục. Vì vậy, Đảng xác định phát triển đội ngũ cán bộ khoa học không thể tách rời quá trình hội nhập quốc tế và xây dựng xã hội học tập. Nghị quyết số 27-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu "mở rộng hợp tác và giao lưu quốc tế về khoa học và công nghệ"[11]. Đây là định hướng quan trọng để đội ngũ cán bộ khoa học Việt Nam tiếp cận tri thức tiên tiến, phương pháp nghiên cứu hiện đại và chuẩn mực học thuật quốc tế. Đồng thời, Văn kiện Đại hội XIV xác định nhiệm vụ "đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời"[12]. Trong bối cảnh tri thức khoa học đổi mới với tốc độ nhanh chóng, học tập suốt đời không chỉ là yêu cầu nghề nghiệp mà còn là điều kiện sống còn đối với mỗi cán bộ khoa học. Nghị quyết số 57-NQ/TW tiếp tục nhấn mạnh: "nhà khoa học là nhân tố then chốt". Điều này vừa khẳng định vai trò trung tâm của đội ngũ cán bộ khoa học, vừa đặt ra yêu cầu xây dựng môi trường học thuật mở, khuyến khích đổi mới liên tục và hội nhập sâu rộng.
Có thể khẳng định rằng, quan điểm của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học trong bối cảnh đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một hệ thống nhận thức toàn diện, chặt chẽ và ngày càng hoàn thiện. Từ việc xác định đây là nhiệm vụ chiến lược, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, gắn với chiến lược phát triển quốc gia, đến yêu cầu đổi mới đồng bộ cơ chế đào tạo, sử dụng, đãi ngộ và mở rộng hội nhập quốc tế, tất cả đều hướng tới mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học thực sự trở thành lực lượng tiên phong trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hùng cường trong kỷ nguyên mới.
2. Định hướng xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học trong Quân đội theo quan điểm của Đảng hiện nay
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành nhân tố quyết định sức mạnh tổng hợp quốc gia, việc xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học trong Quân đội không chỉ là yêu cầu khách quan của quá trình hiện đại hóa quân đội mà còn là nhiệm vụ chiến lược nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển lý luận quân sự, khoa học quân sự, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học đáp ứng yêu cầu đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, việc xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học trong Quân đội hiện nay cần tập trung vào một số định hướng cơ bản sau:
Một là, tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng cho đội ngũ cán bộ khoa học quân đội.
Đây là định hướng có ý nghĩa nền tảng, bảo đảm cho đội ngũ cán bộ khoa học phát triển đúng hướng, gắn hoạt động nghiên cứu khoa học với mục tiêu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đặc thù của đội ngũ cán bộ khoa học trong Quân đội là vừa thực hiện chức năng nghiên cứu, sáng tạo tri thức khoa học, vừa là cán bộ quân đội hoạt động trong môi trường chính trị - quân sự đặc biệt, trực tiếp phục vụ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Vì vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học trước hết phải chú trọng bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng kiên định, trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân; nâng cao năng lực nhận diện, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận và khoa học. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh không gian mạng trở thành môi trường cạnh tranh chiến lược gay gắt, các thế lực thù địch gia tăng lợi dụng học thuật, khoa học và công nghệ để xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng.
Đồng thời, cần làm cho đội ngũ cán bộ khoa học nhận thức sâu sắc rằng nghiên cứu khoa học trong Quân đội không đơn thuần là hoạt động chuyên môn mà còn là trách nhiệm chính trị trực tiếp góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho hoạch định đường lối quân sự, quốc phòng; phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng.
Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, nâng cao toàn diện chất lượng chuyên môn và năng lực sáng tạo.
Trong điều kiện phát triển nhanh của khoa học, công nghệ hiện đại, yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ khoa học quân đội không chỉ dừng lại ở trình độ chuyên môn vững vàng mà còn đòi hỏi năng lực nghiên cứu độc lập, tư duy sáng tạo, khả năng dự báo chiến lược và năng lực giải quyết các vấn đề phức tạp của thực tiễn quân sự, quốc phòng. Việc chuẩn hóa đội ngũ cần được thực hiện đồng bộ trên các phương diện: trình độ học vấn, năng lực nghiên cứu, phương pháp tư duy khoa học, kỹ năng công bố học thuật, năng lực ngoại ngữ, khả năng ứng dụng công nghệ số và năng lực hội nhập học thuật quốc tế. Đây là yêu cầu tất yếu khi khoa học quân sự hiện đại đang chuyển mạnh sang mô hình nghiên cứu liên ngành, tích hợp cao giữa khoa học xã hội nhân văn quân sự với khoa học kỹ thuật quân sự, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo.
Đặc biệt, cần chú trọng phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học trẻ có tiềm năng; xây dựng lực lượng chuyên gia đầu ngành trên các lĩnh vực then chốt của khoa học quân sự; bảo đảm tính kế thừa, phát triển liên tục của đội ngũ cán bộ khoa học trong Quân đội.
Ba là, đổi mới mạnh mẽ phương pháp nghiên cứu khoa học, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và chuyển đổi số trong hoạt động khoa học quân sự.
Đây là định hướng có ý nghĩa đột phá trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia đang được thúc đẩy mạnh mẽ theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Sự phát triển của dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, mô phỏng số, điện toán đám mây và các nền tảng học thuật số đang làm thay đổi căn bản phương thức nghiên cứu khoa học. Nếu không nhanh chóng đổi mới phương pháp nghiên cứu, đội ngũ cán bộ khoa học quân đội sẽ khó theo kịp tốc độ phát triển của khoa học quân sự thế giới.
Theo đó, cần chuyển mạnh từ phương pháp nghiên cứu truyền thống sang mô hình nghiên cứu hiện đại, kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu lý luận với phân tích dữ liệu, mô hình hóa, dự báo chiến lược và ứng dụng các công cụ công nghệ số. Đồng thời, cần xây dựng hạ tầng số phục vụ nghiên cứu khoa học quân sự; phát triển cơ sở dữ liệu chuyên ngành; tăng cường khai thác thư viện số, kho dữ liệu học thuật và các nền tảng nghiên cứu hiện đại. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ số phải luôn đặt dưới yêu cầu bảo đảm tính bảo mật quân sự, an toàn thông tin và giữ vững nguyên tắc độc lập tư duy khoa học, tránh lệ thuộc máy móc vào công nghệ.
Bốn là, xây dựng môi trường nghiên cứu khoa học dân chủ, chuyên nghiệp, khuyến khích đổi mới sáng tạo và phát triển văn hóa học thuật trong Quân đội.
Môi trường nghiên cứu khoa học có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng phát triển đội ngũ cán bộ khoa học. Một môi trường học thuật tích cực sẽ khơi dậy tiềm năng sáng tạo, thúc đẩy tư duy phản biện và hình thành phong cách nghiên cứu chuyên nghiệp. Đối với Quân đội, xây dựng môi trường nghiên cứu khoa học cần bảo đảm sự hài hòa giữa tính dân chủ học thuật với tính kỷ luật, kỷ cương quân sự. Cần mở rộng các diễn đàn học thuật, hội thảo khoa học, tọa đàm chuyên đề; khuyến khích tranh luận khoa học trên tinh thần khách quan, xây dựng, tôn trọng sự thật khoa học.
Cùng với đó, phải hình thành văn hóa nghiên cứu khoa học lành mạnh, đề cao đạo đức học thuật, tính trung thực khoa học, tinh thần trách nhiệm và ý thức cống hiến. Đây là điều kiện quan trọng để đội ngũ cán bộ khoa học quân đội phát triển bền vững trong môi trường cạnh tranh tri thức ngày càng gay gắt.
Năm là, hoàn thiện cơ chế sử dụng, trọng dụng, đãi ngộ và tạo động lực phát triển đội ngũ cán bộ khoa học trong Quân đội.
Đội ngũ cán bộ khoa học chỉ có thể phát huy tối đa năng lực khi được bố trí, sử dụng đúng chuyên môn, có môi trường cống hiến thuận lợi và được bảo đảm các điều kiện phát triển nghề nghiệp tương xứng. Do đó, cần tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý khoa học theo hướng giảm tính hành chính, tăng quyền tự chủ học thuật, coi trọng chất lượng và hiệu quả sản phẩm nghiên cứu. Đồng thời, xây dựng chính sách đặc thù về thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng chuyên gia giỏi, nhà khoa học trẻ tài năng; có cơ chế khuyến khích công bố khoa học, nghiên cứu chuyên sâu và tham gia giải quyết các nhiệm vụ khoa học trọng điểm của Quân đội.
Bên cạnh chế độ vật chất, cần đặc biệt quan tâm đến động lực tinh thần như tôn vinh thành tựu khoa học, tạo cơ hội phát triển nghề nghiệp, xây dựng niềm tự hào nghề nghiệp của người cán bộ khoa học quân đội.
Sáu là, mở rộng hợp tác khoa học, tăng cường hội nhập học thuật quân sự và gắn nghiên cứu khoa học với thực tiễn xây dựng Quân đội.
Trong điều kiện toàn cầu hóa tri thức, không một nền khoa học nào có thể phát triển biệt lập. Việc xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học quân đội cần đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với hợp tác khoa học trong nước và quốc tế. Cần mở rộng liên kết giữa các học viện, nhà trường, viện nghiên cứu trong và ngoài Quân đội; thúc đẩy trao đổi học thuật, phối hợp nghiên cứu liên ngành; tạo điều kiện cho cán bộ khoa học tiếp cận các thành tựu mới của khoa học quân sự hiện đại.
Quan trọng hơn, mọi hoạt động nghiên cứu phải bám sát thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng chính quy, quản lý bộ đội và phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam. Chỉ khi gắn chặt với thực tiễn quân sự, đội ngũ cán bộ khoa học mới tạo ra được những công trình có giá trị lý luận và khả năng ứng dụng cao.
Những định hướng trên vừa thể hiện sự quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học, vừa phản ánh yêu cầu khách quan của sự nghiệp xây dựng Quân đội trong bối cảnh đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học quân đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao, tư duy đổi mới, năng lực sáng tạo mạnh mẽ, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội hiện đại và bảo vệ vững chắc Tổ quốc
3. Kết luận
Xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học trong Quân đội theo quan điểm của Đảng là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, giữ vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học quân sự, phát triển lý luận quân sự và đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại trong bối cảnh đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về giáo dục chính trị tư tưởng, chuẩn hóa đội ngũ, đổi mới phương pháp nghiên cứu, ứng dụng công nghệ số, xây dựng môi trường học thuật thuận lợi và hoàn thiện cơ chế trọng dụng nhân tài. Thực hiện tốt những định hướng đó sẽ góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học quân đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao, tư duy đổi mới và năng lực sáng tạo, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Nguyễn Văn Công
Hệ 5, Học viện Chính trị
Chú thích:
[1], [4], [8], [11] . Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018, tập 67, tr.799, 799, 804, 801.
[2], [5], [10]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr.116, 116, 123.
[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2019, phần I, tr.76.
[6], [12]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2026, tập I, tr.82, 103.
[7]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cánh mạng công nghiệp lần thứ tư, Hà Nội, 2019.
[9]. Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 của Ban Chấp hành Trung ương về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Hà Nội, 2012.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương (2024), Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, ngày 22/12/2024.
2. Nguyễn Đình Nguyên (2024), Chất lượng nguồn nhân lực khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan Quân đội hiện nay, Luận án tiến sĩ Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, HVCT, Hà Nội.
3. Lê Văn Quang (chủ biên, 2013), Xây dựng đội ngũ cán bộ đầu ngành khoa học xã hội và nhân văn trong Quân đội thời kỳ mới, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
4. Quân ủy Trung ương (2025), Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội, ngày 29/01/2025.
5. Nguyễn Văn Tháp (2019), Phương hướng xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học xã hội nhân văn quân sự trong những năm tới, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, Số 3 (175), Hà Nội.