Những năm qua, Cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị và tổ chức Đoàn các cấp quan tâm hơn đến hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng và phát triển nguồn nhân lực trẻ. Nội dung này được lồng ghép trong nghị quyết, chương trình công tác, giáo dục chính trị, sinh hoạt Đoàn, diễn đàn, tọa đàm và nghiên cứu khoa học. Theo báo cáo tổng kết công tác Đoàn và phong trào thanh niên Quân đội năm 2024 được dẫn trong tài liệu nghiên cứu, toàn quân tổ chức 376 lớp tập huấn, bồi dưỡng cho hơn 12.700 cán bộ Đoàn các cấp. Các nội dung tương ứng với năm thành tố "5T" đã được triển khai bằng nhiều hình thức, từng bước gắn với nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Các đơn vị chú trọng bồi dưỡng kiến thức đối ngoại, hội nhập quốc tế, luật pháp quốc tế, ngoại ngữ và kỹ năng số thông qua câu lạc bộ ngoại ngữ, diễn đàn học thuật, hội thi tiếng Anh quân sự và sinh hoạt chuyên đề. Thanh niên tham gia giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới, giao lưu sĩ quan trẻ, diễn đàn quốc tế, hội thi, hội thao quân sự và gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Năm 2024, Ban Thanh niên Quân đội tổ chức hoặc tham gia giao lưu sĩ quan trẻ với quân đội Trung Quốc, Cuba, Ấn Độ, Philippines, Singapore, Campuchia, Lào và tập huấn cho cán bộ Quân đội nhân dân Lào, tạo môi trường rèn luyện giao tiếp, ứng xử và phối hợp đa văn hóa. Các tổ chức Đoàn sử dụng video, infographic, bản tin điện tử và nền tảng số để giới thiệu hoạt động đối ngoại quốc phòng, truyền thống Quân đội và hình ảnh "Bộ đội Cụ Hồ". Phong trào "Tuổi trẻ sáng tạo trong Quân đội" khuyến khích nghiên cứu khoa học, đề xuất sáng kiến, cải tiến kỹ thuật và ứng dụng công nghệ; một số hoạt động đã gắn với hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng. Mặt khác, việc tham gia hoạt động đối ngoại quốc phòng góp phần nâng cao nhận thức, bản lĩnh và tâm thế sẵn sàng nhận nhiệm vụ của thanh niên. Giao lưu, hợp tác quốc phòng, hội thao quân sự quốc tế và gìn giữ hòa bình tạo cơ hội để cán bộ trẻ thể hiện trách nhiệm, kỷ luật, khả năng phối hợp và góp phần lan tỏa hình ảnh Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhìn chung, các kết quả trên bắt nguồn từ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị; sự quan tâm của cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị và tổ chức Đoàn; sự phát triển của hoạt động đối ngoại quốc phòng; cùng với tinh thần xung kích, sáng tạo và ý thức tự học, tự rèn luyện của thanh niên. Đây là những điều kiện thuận lợi quan trọng để xây dựng Mô hình sáng tạo "5T" theo hướng có hệ thống.
Tuy nhiên, ở một số cơ quan, đơn vị, nội dung đối ngoại quốc phòng đối với thanh niên vẫn chủ yếu được lồng ghép, chưa trở thành nội dung thường xuyên, có mục tiêu và lộ trình rõ ràng trong công tác thanh niên. Một bộ phận cán bộ, đoàn viên chưa nhận thức đầy đủ vai trò của mình trong nhiệm vụ này; có nơi vẫn coi đối ngoại quốc phòng chủ yếu là nhiệm vụ của lực lượng chuyên trách. Việc phát triển năm thành tố chưa đồng đều, thiếu tính liên kết và chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn. Ngoại ngữ vẫn là điểm hạn chế của một bộ phận thanh niên nên gặp khó khăn trong giao tiếp, khai thác tài liệu chuyên ngành và tham gia hoạt động có yếu tố nước ngoài. Cơ hội tiếp xúc quốc tế còn tập trung ở một số cơ quan, đơn vị có nhiệm vụ chuyên trách, chưa phân bố đồng đều theo điều kiện và nhu cầu phát triển năng lực của thanh niên. Thực tiễn cho thấy, kết quả phát huy thanh niên chưa tương xứng với tiềm năng, chưa hình thành cơ chế thống nhất để tổ chức và đánh giá mô hình. Các hoạt động giáo dục, giao lưu, truyền thông, nghiên cứu khoa học và chuyển đổi số đã tạo kết quả tích cực nhưng còn phân tán theo chương trình, lĩnh vực hoặc đơn vị. Chưa có sự liên thông chặt chẽ giữa trang bị tri thức, bồi dưỡng bản lĩnh, tổ chức thực hành, phát triển truyền thông và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Vì vậy, kết quả của hoạt động này chưa luôn trở thành đầu vào cho hoạt động khác; kinh nghiệm và sản phẩm hiệu quả chưa được hệ thống hóa để nhân rộng. Việc đánh giá ở một số nơi còn thiên về số lượng hoạt động, số đoàn viên tham gia hoặc thành tích phong trào, trong khi chưa phản ánh đầy đủ mức độ hình thành năng lực đối ngoại quốc phòng của từng cá nhân và tập thể. Khi chưa có mô hình thống nhất và bộ tiêu chí phù hợp, việc xác định nhu cầu bồi dưỡng, đo lường chuyển biến, so sánh kết quả giữa các giai đoạn và nhân rộng cách làm hiệu quả còn gặp khó khăn. Những hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân khách quan là yêu cầu đối ngoại quốc phòng phát triển nhanh, trong khi điều kiện tổ chức hoạt động và cơ hội tiếp xúc quốc tế giữa các đơn vị khác nhau. Nguyên nhân chủ quan là nhận thức, trách nhiệm chưa đồng đều; giáo dục, bồi dưỡng chưa thiết kế đầy đủ theo hướng phát triển năng lực; môi trường thực hành, ứng dụng số và hỗ trợ sáng kiến còn hạn chế. Đặc biệt, chưa có mô hình thống nhất để tích hợp nội dung, xác định chuẩn năng lực và đánh giá kết quả.
Từ thực trạng trên, có thể nhận diện một số vấn đề nổi bật cần giải quyết. Đây là những mối quan hệ giữa yêu cầu mới của nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng với những điều kiện, cách thức tổ chức và kết quả phát triển năng lực thanh niên hiện nay.
Thứ nhất, vấn đề thống nhất nhận thức và trách nhiệm giữa yêu cầu phát huy vai trò rộng rãi của thanh niên với quan niệm đối ngoại quốc phòng là nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng chuyên trách. Đối ngoại quốc phòng đòi hỏi chuyên môn, nguyên tắc, quy trình và bảo mật chặt chẽ; song vai trò thanh niên không chỉ giới hạn ở lực lượng chuyên trách. Thanh niên có thể học tập, nghiên cứu, giao lưu, truyền thông và hỗ trợ chuyên môn theo chức trách. Vì vậy, cần làm rõ phạm vi, hình thức tham gia của từng nhóm thanh niên, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo và kiểm soát theo quy định.
Thứ hai, vấn đề chuyển từ tổ chức hoạt động phong trào sang phát triển năng lực có hệ thống, trong khi phương thức giáo dục, bồi dưỡng còn thiên về lồng ghép và chưa có chuẩn đầu ra rõ ràng. Nhiều lớp tập huấn, sinh hoạt chuyên đề, giao lưu và cuộc thi đã được tổ chức, nhưng tham gia hoạt động chưa đồng nghĩa với hình thành năng lực. Cần thiết kế lộ trình theo năm thành tố "5T", xác định nội dung cần đạt, cách rèn luyện và kiểm chứng kết quả; đồng thời phân hóa theo trình độ, chức trách, loại hình đơn vị và mức độ tham gia nhiệm vụ quốc tế.
Thứ ba, vấn đề mở rộng môi trường thực hành và bảo đảm cơ hội rèn luyện tương đối công bằng giữa các nhóm thanh niên, trong điều kiện cơ hội tham gia hoạt động quốc tế còn tập trung ở một số đơn vị. Không phải thanh niên nào cũng có điều kiện tham gia đoàn công tác, giao lưu quốc tế hoặc gìn giữ hòa bình; cơ hội trải nghiệm còn phụ thuộc nhiệm vụ, nguồn lực và yêu cầu an ninh. Do đó, cần kết hợp thực hành thực tế với mô phỏng tình huống, câu lạc bộ ngoại ngữ, hội thảo trực tuyến, trao đổi học thuật, thực hành truyền thông và phối hợp liên đơn vị.
Thứ tư, vấn đề kết hợp bản lĩnh chính trị, kỷ luật quân đội với năng lực giao tiếp, truyền thông và thích ứng trong môi trường quốc tế, đa văn hóa và số hóa. Thanh niên phải vừa giữ vững bản lĩnh, kỷ luật và phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ", vừa có kỹ năng giao tiếp, hiểu biết văn hóa, xử lý tình huống và sử dụng công nghệ. Nếu chỉ chú trọng chính trị mà thiếu thực hành, thanh niên dễ lúng túng; nếu chỉ chú trọng kỹ năng mà xem nhẹ bảo mật, có thể phát sinh rủi ro. Vì vậy, cần gắn bồi dưỡng kỹ năng số với nguyên tắc, quy trình và quy định của Quân đội.
Thứ năm, vấn đề xây dựng cơ chế phối hợp, tiêu chí đánh giá và nhân rộng mô hình, trong khi các hoạt động hiện nay còn phân tán và kết quả chủ yếu được đo bằng chỉ số hoạt động. Mô hình liên quan nhiều chủ thể, từ cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị, tổ chức Đoàn đến cơ quan chuyên môn, học viện, nhà trường và thanh niên. Thiếu phối hợp sẽ khiến hoạt động rời rạc; chỉ đo số lớp học, giao lưu hay sản phẩm cũng chưa phản ánh chất lượng. Cần có bộ tiêu chí theo năm thành tố, kết hợp định lượng và định tính, quy định trách nhiệm, sơ kết và nhân rộng cách làm hiệu quả; đánh giá sự tiến bộ và khả năng vận dụng, tránh hình thức.
Như vậy, thực tiễn cho thấy năm thành tố "5T" bước đầu hình thành qua giáo dục, bồi dưỡng, giao lưu quốc tế, truyền thông số và nghiên cứu khoa học; nhận thức, trách nhiệm của thanh niên có chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, triển khai còn chưa đồng đều, cơ hội thực hành hạn chế, năng lực ngoại ngữ và truyền thông số chưa đồng đều, đổi mới sáng tạo chưa gắn chặt với nhiệm vụ và cơ chế đánh giá còn thiếu. Do đó, cần chuyển từ hoạt động phân tán sang mô hình phát triển năng lực thống nhất, có lộ trình, chuẩn đầu ra và tiêu chí đánh giá. Quá trình xây dựng phải kế thừa cách làm hiệu quả, khắc phục khoảng cách giữa nhận thức và thực hiện, giữa tham gia hoạt động và hình thành năng lực, góp phần phát huy vai trò thanh niên trong đối ngoại quốc phòng thời kỳ mới.
Đại uý Nguyễn Xuân Thế, Đại uý Vương Đức Thịnh, Thiếu tá Nguyễn Chí Giáp
Hệ 2, Học viện Chính trị
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
2. Bộ Quốc phòng (2019), Quốc phòng Việt Nam 2019, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
3. Ban Thanh niên Quân đội (2024), Báo cáo tổng kết công tác Đoàn và phong trào thanh niên Quân đội năm 2024.
4. Bộ Quốc phòng (2024), Báo cáo tổng kết công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng năm 2024 (tài liệu được dẫn trong đề tài nghiên cứu).
5. Quốc hội (2020), Luật Thanh niên, Luật số 57/2020/QH14 ngày 16/6/2020.