logo
ISSN 2734-9020

Yếu tố quy định chất lượng thực hiện phong trào “Bình dân học vụ số” của học viên đào tạo sau đại học ở Học viện Chính trị hiện nay

Thứ ba, 10/03/2026 - 08:16

Tóm tắt: Bài viết làm rõ chất lượng thực hiện phong trào "Bình dân học vụ số" của học viên đào tạo sau đại học ở Học viện Chính trị hiện nay tổng hòa các giá trị được tạo bởi quá trình tổ chức học tập, nghiên cứu, phổ biến và lan tỏa tri thức, kỹ năng và văn hóa số, phản ánh ở mức độ năng lực CĐS cho bản thân, đơn vị và Học viện, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu giáo dục, đào tạo CĐS của nhà trường trong thời kỳ mới; trên cơ sở đó làm rõ những yếu tố quy định đến chất lượng thực hiện phong trào "Bình dân học vụ số" của học viên đào tạo sau đại học ở Học viện Chính trị hiện nay.

Mở đầu

Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, việc thực hiện phong trào "Bình dân học vụ số" có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao trình độ, năng lực, kỹ năng, sử dụng công nghệ thông tin cho học viên (HV) đào tạo sau đại học (ĐTSĐH) ở Học viện Chính trị. Thông qua việc thực hiện phong trào "Bình dân học vụ số" HV ĐTSĐH có cơ hội, điều kiện học tập, nghiên cứu, bổ sung những mặt còn yếu, hạn chế về kỹ năng ứng dụng, sử dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, phục vụ hữu ích cho nhiệm vụ học tập tại Học viện; và công tác sau này, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp trong quân đội.

1. Chất lượng thực hiện phong trào "Bình dân học vụ số" của học viên đào tạo sau đại học ở Học viện Chính trị

Chất lượng thực hiện Phong trào "Bình dân học vụ số" của học viên đào tạo sau đại học ở HVCT là tổng hòa các giá trị được tạo bởi quá trình tổ chức học tập, nghiên cứu, phổ biến và lan tỏa tri thức, kỹ năng và văn hóa số, phản ánh ở mức độ năng lực CĐS cho bản thân, đơn vị và Học viện, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu giáo dục, đào tạo CĐS của nhà trường trong thời kỳ mới. Chất lượng thực hiện Phong trào "Bình dân học vụ số" của học viên đào tạo sau đại học ở HVCT là mức độ hiệu quả và sự phù hợp của quá trình học tập, nghiên cứu, phổ biến và lan tỏa tri thức, kỹ năng và văn hóa số, được đo bằng mức độ đạt chuẩn năng lực CĐS của học viên đối với bản thân, đơn vị và Học viện, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu giáo dục và đào tạo CĐS của nhà trường trong thời kỳ mới.

Thứ nhất, chất lượng thực hiện phong trào được thể hiện trước hết ở mức độ đáp ứng mục tiêu đào tạo sau đại học, đội ngũ cán bộ có trình độ học vấn cao, tư duy khoa học độc lập và năng lực sáng tạo.

Chất lượng phong trào được phản ánh ở mức độ học viên làm chủ các công cụ, phương pháp số phục vụ nghiên cứu, học tập và giảng dạy theo chuẩn mực khoa học hiện đại. Thông qua phong trào, tư duy khoa học, tư duy phản biện và năng lực nghiên cứu độc lập của học viên được hình thành và phát triển một cách thực chất. Việc tiếp cận và xử lý tri thức trong môi trường số góp phần nâng cao khả năng phân tích, tổng hợp và khái quát lý luận của học viên. Trên cơ sở đó, học viên có điều kiện vận dụng tri thức lý luận vào nhận diện, phân tích các vấn đề tư tưởng, lý luận nảy sinh trong thực tiễn và trên không gian mạng. Chất lượng phong trào vì vậy được thể hiện ở sự kết hợp hài hòa giữa năng lực nghiên cứu khoa học và bản lĩnh chính trị của học viên. Qua đó, phong trào góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo sau đại học và chuẩn bị đội ngũ cán bộ có đủ năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Thứ hai, chất lượng thực hiện phong trào được phản ánh ở mức độ nâng cao thực chất năng lực số của học viên đào tạo sau đại học.

Chất lượng phong trào không chỉ thể hiện ở việc học viên được tham gia hay tiếp cận các hoạt động học tập trên nền tảng số, mà quan trọng hơn là ở mức độ làm chủ tri thức, kỹ năng và công cụ số phục vụ học tập, nghiên cứu khoa học, giảng dạy và công tác quản lý. Năng lực số của học viên phải được hình thành trên cơ sở hiểu biết bản chất, nguyên lý vận hành và khả năng lựa chọn, sử dụng công nghệ một cách phù hợp. Thông qua phong trào, học viên từng bước nâng cao khả năng khai thác, xử lý và phân tích thông tin, dữ liệu khoa học trong môi trường số. Chất lượng phong trào còn được thể hiện ở năng lực vận dụng linh hoạt các công cụ số vào giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu và thực tiễn công tác cụ thể. Năng lực số được hình thành phải mang tính ổn định, có khả năng thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ. Qua đó, học viên không chỉ nâng cao hiệu quả công việc trước mắt mà còn có khả năng tự học, tự cập nhật và phát triển năng lực trong dài hạn. Đây là biểu hiện quan trọng phản ánh chiều sâu và tính bền vững của chất lượng thực hiện Phong trào "Bình dân học vụ số".

Thứ ba, chất lượng thực hiện phong trào được thể hiện ở tính thiết thực và hiệu quả của nội dung, hình thức và phương thức triển khai.

Phong trào đạt chất lượng cao khi nội dung học tập được xây dựng phù hợp với trình độ đào tạo sau đại học, gắn chặt với yêu cầu nghiên cứu khoa học và nhiệm vụ công tác của học viên. Các nội dung học tập cần có chiều sâu học thuật, tránh dàn trải, bảo đảm hỗ trợ trực tiếp cho việc nâng cao năng lực nghiên cứu, giảng dạy và quản lý. Chất lượng phong trào còn được phản ánh ở sự đa dạng, linh hoạt của hình thức tổ chức, trong đó các nền tảng số được khai thác và sử dụng một cách hiệu quả. Phương thức triển khai phải tạo được sự kết nối chặt chẽ giữa hoạt động học tập, nghiên cứu trong Học viện với thực tiễn công tác tại cơ quan, đơn vị của học viên. Thông qua đó, tri thức và KNS được kiểm nghiệm, vận dụng và hoàn thiện trong thực tiễn. Việc tổ chức phong trào cần bảo đảm tính tự giác, chủ động của học viên, hạn chế tối đa biểu hiện hình thức hoặc chạy theo thành tích. Tránh dàn trải, thiếu trọng tâm là yêu cầu quan trọng trong đánh giá chất lượng thực hiện phong trào. Qua đó, phong trào thực sự trở thành động lực nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học tại HVCT.

Thứ tư, chất lượng thực hiện phong trào được thể hiện ở mức độ tự giác, chủ động và trách nhiệm của học viên đào tạo sau đại học.

Học viên tham gia phong trào không chỉ với tư cách là người thụ hưởng các hoạt động học tập số, mà còn là chủ thể trực tiếp tổ chức, thúc đẩy và lan tỏa phong trào trong môi trường giáo dục, đào tạo cán bộ. Chất lượng phong trào được phản ánh ở ý thức tự học, tự nghiên cứu, tự rèn luyện và không ngừng nâng cao năng lực số của học viên. Thông qua phong trào, học viên thể hiện tinh thần trách nhiệm đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học của Học viện. Mức độ chủ động của học viên trong đề xuất nội dung, hình thức và phương thức triển khai phong trào là biểu hiện quan trọng của chất lượng. Đồng thời, học viên có trách nhiệm nêu gương trong việc ứng dụng công nghệ số một cách khoa học, hiệu quả và chuẩn mực. Việc phát huy vai trò dẫn dắt của học viên góp phần tạo động lực và sức lan tỏa cho phong trào trong tập thể. Qua đó, phong trào được triển khai một cách thực chất, bền vững và phù hợp với yêu cầu đào tạo sau đại học.

Thứ năm, chất lượng thực hiện phong trào được phản ánh ở mức độ lan tỏa và tác động xã hội của phong trào.

Phong trào "Bình dân học vụ số" có chất lượng không chỉ tạo ra sự chuyển biến trong phạm vi HVCT, mà còn phát huy tác động tích cực đối với cơ quan, đơn vị và địa phương nơi học viên đang công tác. Mức độ lan tỏa của phong trào được thể hiện ở khả năng chuyển tải tri thức số, KNS và văn hóa số từ môi trường đào tạo ra thực tiễn công tác. Thông qua hoạt động lãnh đạo, quản lý, giảng dạy và tham mưu, học viên góp phần đưa các phương thức làm việc hiện đại, khoa học dựa trên nền tảng số vào cơ quan, đơn vị. Chất lượng phong trào còn được phản ánh ở hiệu quả cải thiện năng lực ứng dụng công nghệ số của tập thể nơi học viên công tác. Việc lan tỏa tri thức số một cách có định hướng góp phần thu hẹp khoảng cách số giữa các cấp, các lĩnh vực và các địa bàn. Qua đó, phong trào hỗ trợ hình thành môi trường học tập suốt đời trong cơ quan, đơn vị. Đây là thước đo quan trọng để đánh giá chiều sâu, hiệu quả và giá trị xã hội của Phong trào "Bình dân học vụ số".

2. Yếu tố quy định chất lượng thực hiện Phong trào "Bình dân học vụ số" của học viên sau đại học ở Học viện Chính trị

Thứ nhất, vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy Học viện, Đảng ủy Hệ 5 và công tác quản lý, điều hành của Ban Giám đốc Học viện, chỉ huy Hệ 5, các khóa, các lớp.

Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy Học viện, Đảng ủy Hệ 5 và công tác quản lý, điều hành của Ban Giám đốc Học viện, chỉ huy Hệ 5, các khóa, các lớp là nhân tố tác động quan trọng đến chất lượng thực hiện Phong trào "Bình dân học vụ số" của học viên đào tạo sau đại học. Nhân tố này vừa tác động trực tiếp, vừa tác động gián tiếp đến quá trình tổ chức và hiệu quả thực hiện phong trào thông qua nhiều cơ chế và cấp độ khác nhau. Về tác động trực tiếp, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy Học viện và Đảng ủy Hệ 5 thể hiện ở việc ban hành các chủ trương, nghị quyết, kế hoạch, chương trình hành động liên quan đến Phong trào "Bình dân học vụ số"; qua đó định hướng mục tiêu, nội dung, yêu cầu và phương thức triển khai phù hợp với nhiệm vụ giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học trong bối cảnh CĐS. Công tác quản lý, điều hành của Ban Giám đốc Học viện, chỉ huy Hệ 5, các khóa, các lớp tác động trực tiếp đến việc tổ chức thực hiện phong trào thông qua phân công nhiệm vụ, xây dựng kế hoạch cụ thể, điều phối hoạt động, bố trí thời gian và kiểm soát tiến độ triển khai. Những nội dung này ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ thống nhất, đồng bộ và tính khả thi của phong trào trong thực tiễn.

Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết của các cấp lãnh đạo, chỉ huy tác động trực tiếp đến chất lượng thực hiện phong trào. Thông qua hoạt động này, các nội dung, hình thức và phương thức tổ chức chưa phù hợp được kịp thời điều chỉnh; các mô hình, cách làm hiệu quả được phát hiện và nhân rộng; đồng thời những hạn chế, bất cập trong quá trình triển khai được khắc phục. Đây là cơ sở quan trọng để phong trào được duy trì nền nếp và từng bước nâng cao chất lượng.

Về tác động gián tiếp, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy Học viện và Đảng ủy Hệ 5 góp phần nâng cao nhận thức chính trị, ý thức trách nhiệm và động cơ tham gia phong trào của đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và học viên đào tạo sau đại học. Thông qua định hướng tư tưởng, tuyên truyền, giáo dục và nêu gương, cấp ủy các cấp tạo môi trường chính trị, tinh thần thuận lợi, thúc đẩy sự tự giác, tích cực của học viên trong việc tham gia và thực hiện Phong trào "Bình dân học vụ số". Công tác quản lý, điều hành khoa học, chặt chẽ còn tác động gián tiếp đến chất lượng phong trào thông qua việc tạo lập điều kiện bảo đảm về cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ, nguồn lực con người và kinh phí. Việc phân bổ và sử dụng hợp lý các nguồn lực này không chỉ ảnh hưởng đến phạm vi và quy mô triển khai phong trào mà còn tác động đến chiều sâu và hiệu quả tham gia của học viên. Đồng thời, sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan, khoa, đơn vị chức năng dưới sự điều hành thống nhất của Học viện và Hệ 5 góp phần hình thành cơ chế vận hành ổn định cho phong trào.

Thứ hai, nhận thức, động cơ và trách nhiệm của học viên đào tạo sau đại học ở HVCT.

Nhận thức, động cơ và trách nhiệm của học viên đào tạo sau đại học là nhân tố chủ quan quan trọng, tác động trực tiếp và gián tiếp đến chất lượng thực hiện Phong trào "Bình dân học vụ số" ở HVCT. Với tư cách là chủ thể trung tâm của phong trào, học viên vừa trực tiếp tham gia các hoạt động, vừa góp phần duy trì, lan tỏa và phát triển phong trào trong môi trường giáo dục, đào tạo cán bộ. Trong mối quan hệ này, ba yếu tố nhận thức, động cơ và trách nhiệm có vị trí, vai trò và mức độ tác động khác nhau, tạo thành một chỉnh thể thống nhất chi phối hiệu quả thực hiện phong trào.

Trước hết, nhận thức của học viên về Phong trào "Bình dân học vụ số" giữ vai trò nền tảng, mang tính điều kiện, định hướng cho toàn bộ quá trình tham gia và thực hiện. Khi học viên nhận thức đúng đắn rằng phong trào không chỉ là hoạt động bổ trợ về kỹ năng công nghệ, mà là một bộ phận hữu cơ của quá trình đào tạo sau đại học, gắn với việc nâng cao năng lực khoa học, năng lực nghiên cứu và khả năng thích ứng trong môi trường số, phong trào sẽ được tiếp cận một cách nghiêm túc và có chiều sâu. Nhận thức đúng giúp học viên xác định rõ ý nghĩa, mục tiêu và yêu cầu của phong trào, từ đó hình thành thái độ tích cực và sẵn sàng tham gia.

Trên cơ sở nhận thức, động cơ tham gia phong trào của học viên là nhân tố tác động trực tiếp mạnh nhất đến chất lượng thực hiện Phong trào "Bình dân học vụ số". Động cơ quyết định mức độ tích cực, chủ động, sáng tạo và bền bỉ của học viên trong quá trình tham gia. Khi động cơ được hình thành từ nhu cầu tự thân về nâng cao trình độ tri thức, KNS, năng lực nghiên cứu khoa học và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, học viên sẽ tích cực tìm tòi, học hỏi và chủ động tham gia các hoạt động của phong trào. Động cơ đúng đắn là cầu nối chuyển hóa nhận thức thành hành vi thực tiễn, tạo ra hiệu quả cụ thể trong quá trình triển khai phong trào. Ngược lại, động cơ không rõ ràng hoặc mang tính đối phó sẽ làm giảm mức độ tham gia, trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả và chất lượng phong trào.

Cùng với nhận thức và động cơ, trách nhiệm của học viên đào tạo sau đại học là nhân tố bảo đảm, góp phần duy trì tính nghiêm túc, chiều sâu và sự lan tỏa của phong trào. Với tư cách là cán bộ, đảng viên, sĩ quan trong Quân đội, học viên có trách nhiệm nêu gương trong học tập, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ số; thể hiện tinh thần tự học, tự rèn luyện, chủ động cập nhật tri thức mới và chấp hành nghiêm các quy định về an toàn, an ninh và đạo đức trong môi trường số. Việc phát huy tốt trách nhiệm cá nhân giúp phong trào được triển khai nền nếp, tránh biểu hiện hình thức, chạy theo thành tích, đồng thời tạo niềm tin và sức thuyết phục trong tập thể học viên.

Thứ ba, chất lượng nội dung, chương trình và phương thức triển khai phong trào "Bình dân học vụ số" của học viên đào tạo sau đại học ở HVCT.

Chất lượng nội dung, chương trình và phương thức triển khai là nhân tố tác động trực tiếp và quan trọng đến chất lượng thực hiện Phong trào "Bình dân học vụ số" của học viên đào tạo sau đại học ở HVCT. Nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ thiết thực, khả năng tiếp nhận và hiệu quả vận dụng tri thức, KNS của học viên trong quá trình tham gia phong trào. Nội dung, chương trình và phương thức triển khai càng phù hợp với trình độ đào tạo sau đại học và yêu cầu thực tiễn công tác thì phong trào càng có điều kiện phát huy giá trị thực chất.

Về tác động trực tiếp, chất lượng nội dung phong trào giữ vai trò then chốt trong việc định hướng hoạt động học tập, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ số của học viên. Nội dung phong trào cần được xây dựng trên cơ sở mục tiêu, yêu cầu đào tạo sau đại học của HVCT, đồng thời bám sát đặc thù của lĩnh vực KHXH&NV quân sự. Nội dung không chỉ dừng lại ở việc phổ cập kiến thức công nghệ số cơ bản, mà cần hướng tới nâng cao năng lực khai thác, xử lý thông tin, nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ số trong giảng dạy, quản lý và tham mưu chính sách. Việc lựa chọn nội dung có trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm tính hệ thống và tính ứng dụng sẽ tác động trực tiếp đến chất lượng tham gia và hiệu quả thực hiện phong trào của học viên. Cùng với nội dung, chất lượng chương trình phong trào tác động trực tiếp đến khả năng tiếp nhận và mức độ làm chủ tri thức số của học viên đào tạo sau đại học. Chương trình cần được thiết kế phù hợp với trình độ nhận thức, năng lực học tập và nghiên cứu của học viên; xác định rõ mục tiêu, yêu cầu đầu ra của từng nội dung để học viên có cơ sở định hướng quá trình tham gia và tự đánh giá kết quả đạt được. Việc bảo đảm sự gắn kết giữa lý luận và thực tiễn, giữa tri thức số với yêu cầu giải quyết các nhiệm vụ cụ thể trong công tác giúp học viên tiếp cận tri thức một cách sâu sắc và hiệu quả hơn, qua đó nâng cao chất lượng thực hiện phong trào.

Thứ tư, môi trường học thuật, văn hóa học tập và văn hóa số của Học viện

Môi trường học thuật, văn hóa học tập và văn hóa số của HVCT là yếu tố có ý nghĩa nền tảng, tác động sâu sắc và lâu dài đến chất lượng thực hiện Phong trào "Bình dân học vụ số" của học viên đào tạo sau đại học. Đây là "không gian mềm" định hình thái độ, hành vi, động cơ và phương thức tham gia phong trào của học viên. Một môi trường thuận lợi sẽ tạo động lực thúc đẩy phong trào phát triển thực chất, bền vững và có chiều sâu. Trước hết, môi trường học thuật dân chủ, nghiêm túc và cởi mở là điều kiện quan trọng để phong trào phát huy hiệu quả. Việc khuyến khích trao đổi học thuật, tranh luận khoa học, tiếp cận đa chiều các vấn đề lý luận và thực tiễn giúp học viên nâng cao tư duy phản biện và năng lực nghiên cứu độc lập. Trong môi trường đó, Phong trào "Bình dân học vụ số" không chỉ là hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, mà trở thành phương tiện thúc đẩy đổi mới phương pháp học tập, nghiên cứu và giảng dạy trên nền tảng số. Chất lượng phong trào vì vậy gắn liền với mức độ phát triển của môi trường học thuật trong Học viện. Cùng với môi trường học thuật, văn hóa học tập có vai trò định hướng thái độ và hành vi của học viên đối với việc tham gia phong trào. Văn hóa học tập tích cực, đề cao tinh thần tự học, tự nghiên cứu và học tập suốt đời sẽ khuyến khích học viên chủ động tiếp cận, khai thác và làm chủ tri thức số. Khi học viên coi việc nâng cao năng lực số là nhu cầu tự thân, phong trào sẽ được triển khai một cách tự giác và hiệu quả hơn. Ngược lại, nếu văn hóa học tập còn nặng về hình thức, phong trào khó đạt được chất lượng và tính bền vững.

Văn hóa số lành mạnh là yếu tố không thể tách rời trong môi trường triển khai Phong trào "Bình dân học vụ số". Văn hóa số thể hiện ở ý thức tuân thủ các quy định về an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu, bản quyền và đạo đức trong sử dụng công nghệ. Việc đề cao trách nhiệm, kỷ luật và chuẩn mực hành vi trong môi trường số giúp học viên sử dụng công nghệ một cách đúng đắn, hiệu quả và an toàn. Đây là điều kiện quan trọng để phong trào phát triển bền vững, phù hợp với đặc thù môi trường giáo dục, đào tạo cán bộ của HVCT.

Bên cạnh đó, môi trường học thuật và văn hóa số của Học viện còn tạo khuôn khổ để định hướng, kiểm soát và điều chỉnh các hoạt động của phong trào. Sự thống nhất giữa giá trị học thuật, chuẩn mực văn hóa và yêu cầu chính trị – tư tưởng góp phần bảo đảm phong trào phát triển đúng hướng, tránh những biểu hiện lệch lạc hoặc tiêu cực trong môi trường số. Chất lượng phong trào vì vậy chịu sự chi phối mạnh mẽ của môi trường văn hóa chung của Học viện.

Kết luận

Nâng cao chất lượng thực hiện phong trào "Bình dân học vụ số" của HV ĐTSĐH ở HVCT là nội dung, biện pháp quan trọng để xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên phát triển toàn diện về phẩm chất, năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội tinh, gọn, hiện đại trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc. Để nâng cao chất lượng này, trong quá trình tổ chức thực hiện cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các tổ chức, lực lượng và chịu sự chi phối, quy định của nhiều nhân tố khác nhau. Những nhân tố quy định chính là điều kiện cần và đủ để nâng cao hơn nữa chất lượng thực hiện phong trào. Mỗi yếu tố có vị trí, vai trò riêng, có mối quan hệ thống nhất, biện chứng, tác động qua lại với nhau, tạo cơ sở, tiền đề cho nhau phát triển. Vì vậy, mỗi chủ thể cần quán triệt, thực hiện tốt từng yếu tố quy định bảo đảm cho thực hiện phong trào hiệu quả, thực chất.

Võ Văn Tuyên - Đỗ Quang Vương - Nguyễn Trọng Ngọc

Hệ Đào tạo Sau đại học, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng


Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Chính trị, Nghị quyết về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc CMCN lần thứ tư, số 52-NQ/TW, ngày 27/9/2019, Hà Nội, 2019.

2. Bộ Quốc phòng, Chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong Quân đội giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Hà Nội, 2021.

3. Bộ Quốc phòng, Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, số 2812/KH-BQP ngày 22/5/2025, Hà Nội.