logo
ISSN 2734-9020

Chế độ một Đảng – Lựa chọn chính trị tất yếu của nhân dân Việt Nam

Thứ tư, 28/01/2026 - 16:23

Tóm tắt: Nội dung bài viết tập trung làm rõ những luận điệu sai trái, xuyên tạc về chế độ một Đảng trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đồng thời khẳng định tính khoa học và thực tiễn của mô hình chính trị này.

Trên cơ sở phân tích đặc điểm lịch sử, văn hóa và sự lựa chọn của nhân dân Việt Nam, khẳng định rằng dân chủ không đồng nhất với đa đảng; giá trị và hiệu quả của dân chủ được thể hiện ở việc quyền lực thuộc về ai và được thực thi vì lợi ích của ai. Từ những thành tựu của cách mạng Việt Nam và thực tiễn phát triển đất nước hiện nay, bài viết khẳng định vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là tất yếu, khách quan, phù hợp lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân; đồng thời góp phần củng cố niềm tin vào con đường xây dựng và thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

1. Mở đầu

Trong khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang tưng bừng, phấn khởi kỷ niệm 96 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam thì các thế lực phản động, thù địch và các phần tử cơ hội chính trị lại gia tăng các hoạt động chống phá, xuyên tạc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; phủ nhận chế độ một đảng lãnh đạo trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Họ cho rằng, một đảng là không dân chủ; là nguồn cơn sinh ra quốc nạn tham nhũng, do đó, chỉ có đa nguyên, đa đảng mới đem lại dân chủ, tự do, sáng tạo và phát triển nhanh, bền vững?; Rằng xây dựng chế độ dân chủ được hậu thuẫn bởi nền tảng đa đảng chính trị đối lập và đa nguyên tư tưởng là điều kiện cần để Việt Nam đi tới văn minh, cường thịnh, dân chủ, phát triển?.

Chủ thể của những luận điệu đó là các tổ chức, cá nhân ở trong, ngoài nước dưới danh nghĩa là các "công dân", "nhà báo", "nhà văn", "nhà dân chủ", "nhà trí thức", "học giả", "nhà nghiên cứu", "người yêu nước", "nhà hoạt động xã hội", "chuyên gia độc lập"… Mục đích của họ là nhằm gây hoang mang, dao động về tư tưởng, làm mất niềm tin, tình cảm, lý tưởng xã hội chủ nghĩa trong nhân dân và trong Đảng; chia rẽ Đảng và nhân dân, làm rối loạn xã hội, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng; xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta; xóa bỏ thành quả cách mạng, cản trở con đường ổn định, phát triển của dân tộc Việt Nam; lái nền dân chủ của Việt Nam theo quỹ đạo dân chủ tư sản… Những luận điệu đó được ngụy trang, đăng tải, phát tán bằng nhiều phương tiện, thủ đoạn tinh vi, nhất là thông qua mạng xã hội dưới hình thức "chia sẻ thông tin", "cung cấp thông tin", tham gia "phản biện", "kiến nghị", "tư vấn", "góp ý", "gợi ý", "khuyến nghị", v.v…

Những luận điệu nêu trên về thực chất là phiến diện, lệch lạc, sai trái, phản khoa học, không đúng thực tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa và công nghệ, truyền thông mạng xã hội phát triển như hiện nay, những luận điệu đó có thể gây ra tác hại khôn lường đối với cá nhân và xã hội; gây ra những tác động tiêu cực vô cùng phức tạp có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh quốc gia và nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta. Nó làm cho không ít người, nhất là thanh niên, trí thức kể cả cán bộ, đảng viên ngộ nhận, mất phương hướng, không phân biệt đúng - sai, phải - trái, dẫn đến yêu sai, ghét nhầm, mất niềm tin vào cuộc sống của bản thân và tiền đồ của quốc gia, dân tộc. Trên thực tế, một số người kể cả trí thức, văn nghệ sĩ và một số cán bộ, đảng viên từng ít nhiều có thành tích cống hiến cũng đã bị lung lạc, dao động, ngả nghiêng, thậm chí dẫn đến sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, sa vào "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", phản bội lại sự nghiệp của Đảng và nhân dân.

2. Nội dung

Thứ nhất, một hay nhiều đảng không phải do ý muốn chủ quan, không phải do nguyên tắc, quy tắc sẵn có nào đó quyết định mà do điều kiện, hoàn cảnh khách quan, điều kiện lịch sử của từng nước và trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể

Thực tiễn cho thấy, trong đời sống xã hội, suy cho cùng, kinh tế quyết định chính trị, cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, tuy nhiên về chính trị, kiến trúc thượng tầng có tính độc lập tương đối, tác động trở lại cơ sở kinh tế. Không phải kinh tế thị trường với nhiều thành phần thì nhất thiết hình thành chế độ đa đảng và cũng không phải kinh tế kế hoạch hóa tập trung nhất thiết hình thành chế độ một đảng. Dân chủ cũng vậy, vừa có tính nhân loại, có giá trị phổ biến nhưng cũng có tính lịch sử, đặc thù. Vì vậy, trên thế giới không có một mô hình chung duy nhất về dân chủ cho mọi quốc gia, dân tộc. Dân chủ hóa là xu thế tất yếu của nhân loại, nhưng mỗi nước tùy điều kiện, hoàn cảnh, mà lựa chọn con đường tiến tới dân chủ và phương thức tổ chức, vận hành nền dân chủ sao cho phù hợp nhất. Đa đảng hay một đảng không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của bất cứ ai. Ví dụ: Singapo có nhiều đảng, nhưng 55 năm qua Đảng Hành động Nhân dân là Đảng duy nhất cầm quyền; Nước Mỹ có nhiều đảng nhưng gần 200 năm qua chỉ có hai đảng Dân chủ và Cộng hòa thay nhau nắm quyền; Trung Quốc hiện nay, ngoài Đảng Cộng sản Trung Quốc là chính đảng chấp chính, còn có 8 đảng tham chính qua Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung quốc… Như vậy, cơ chế đa đảng hoặc một đảng sẽ phụ thuộc hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế, văn hóa, truyền thống, tương quan lực lượng chính trị… của mỗi quốc gia cũng như năng lực, phẩm chất và mức độ đáp ứng các yêu cầu của nhân dân và đất nước của đảng cầm quyền…

Ngoài những khía cạnh trên, mỗi nước tùy điều kiện, hoàn cảnh mà có cách thức, con đường tổ chức vận hành nền dân chủ riêng phù hợp với mình. Theo đó, tôn trọng khác biệt, kể cả khác biệt về số lượng và cơ chế tổ chức hoạt động của Đảng chính trị cũng là nội hàm và nguyên tắc của dân chủ[1]. Thực tế cho thấy, các nước, có thể và cần thiết học hỏi giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm nhưng mọi sự cứng nhắc, áp đặt hoặc sao chép, rập khuôn mô hình, kinh nghiệm dân chủ của nước ngoài đều có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường về nhiều phương diện.

Thứ hai, trong xã hội có giai cấp, nhà nước dân chủ bị chi phối bởi lợi ích, lập trường của giai cấp thống trị, nên dù về hình thức, có thể có nhiều đảng, song về thực chất, chỉ có đảng nào có sức mạnh nhất mới trở thành đảng cầm quyền – đảng đại diện cho giai cấp nắm địa vị về kinh tế

Lịch sử các quốc gia - dân tộc đồng thời cũng là lịch sử của quá trình đấu tranh, xác lập, thay thế, lựa chọn các giai cấp, các lực lượng chính trị đủ điều kiện, năng lực đảm đương sứ mệnh, gánh vác vai trò lãnh đạo, tổ chức, quản lý xã hội. Khi giai cấp chủ nô trở thành lực cản của lịch sử thì giai cấp địa chủ được lựa chọn để thay thế; khi giai cấp địa chủ và chế độ phong kiến trở nên thối nát thì giai cấp tư sản đã thay thế và xác lập chế độ tư bản chủ nghĩa; khi chủ nghĩa tư bản trở thành thế lực phản động thì giai cấp công nhân - đại biểu cho phương thức sản xuất và phương thức quản lý xã hội tiên tiến vươn lên thay thế nhằm xác lập chế độ xã hộ chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Tất nhiên mỗi giai cấp tự nó sẽ lựa chọn những cá nhân tinh hoa, tiêu biểu của giai cấp đó tham gia vào công việc quản lý lãnh đạo xã hội. Ngày nay những cá nhân, bộ phận như vậy thường tập trung dưới hình thức các đảng chính trị.

Tùy điều kiện lịch sử, mỗi giai cấp có thể tổ chức thành một số đảng chính trị với tên gọi, hình thức tổ chức, hoạt động khác nhau (thành lập, giải thể, phân tách, hợp nhất, đổi tên…) để tham gia vào cuộc đấu tranh giành và giữ quyền lực chính trị. Và, cũng tùy điều kiện lịch sử, không có sự giống nhau giữa các nước về số lượng và phương thức các đảng chính trị tham gia vào cuộc đấu tranh giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị. Mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, có thể có một đảng cầm quyền hoặc liên minh đảng cầm quyền, nhưng thực chất đều bị chi phối, quyết định bởi đảng có thực lực nhất, đại diện cho giai cấp nắm địa vị thống trị về kinh tế bởi xét về bản chất và mục đích, đảng chính trị mang bản chất giai cấp, đấu tranh để tác động giành, giữ chính quyền nhằm thực thi quyền lực chính trị và bảo vệ các lợi ích giai cấp. Trong điều kiện đó, việc thực hiện dân chủ trong xã hội bị chi phối sâu sắc bởi lợi ích, lập trường giai cấp thống trị. Ở Mỹ chẳng hạn, tuy Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa cạnh tranh với nhau quyết liệt để cầm quyền nhưng cho dù Đảng nào giành thắng lợi thì về thực chất vẫn là Đảng của giai cấp tư sản Mỹ. Do đó, nền chính trị Mỹ dù là hình thức đa đảng song thực chất vẫn là chế độ độc đảng và Đảng cầm quyền là Đảng kinh doanh[2]. Ở Trung Quốc hiện nay cũng vậy, về hình thức là nhiều đảng, nhưng thực chất vẫn là sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Như vậy, trong thế giới đương đại, đa nguyên, đa đảng chỉ là hình thức, là cách thức tổ chức quyền lực chính trị, còn thực chất vẫn là nhất nguyên chính trị.

Thứ ba, trong thực tiễn chính trị nhân loại, dù một thể chế nào đó có thể có một đảng hay đa đảng thì vấn đề cơ bản vẫn là, đảng cầm quyền là đảng nào, có đủ năng lực và phẩm chất, khả năng đại diện cho lợi ích của quốc gia, dân tộc và lợi ích chân chính của quảng đại người dân hay không?

Thực tế cho thấy hiện có nhiều quốc gia có thể chế chính trị đa đảng và cũng không thiếu các quốc gia có thể chế một đảng. Thể chế chính trị đa đảng có thể tạo nên một sự cạnh tranh chính trị nhất định giữa các đảng song thể chế đa đảng cũng làm nảy sinh những cuộc tranh giành, đấu đá quyền lực gây tốn kém cho xã hội, thậm chí có thể gây nên tình trạng hỗn loạn, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh và ổn định về chính trị xã hội. Những tranh cãi đấu đá có nhiều khi không phục vụ lợi ích chung của người dân mà chỉ phục vụ lợi ích của từng đảng.

Cơ chế một đảng cũng có rất nhiều ưu điểm như dễ tạo nên sự thống nhất về chủ trương, chủ động xây dựng và thực hiện chính sách, nhất là chính sách có tầm chiến lược, lâu dài[3]; do đó, có thể tạo ra sự ổn định chính trị, xã hội. Sứ mệnh của Đảng trong cơ chế này là rất vẻ vang nhưng trách nhiệm của nó rất nặng nề vì phải lo mọi việc lớn nhỏ liên quan đến mọi mặt đời sống của nhân dân và đất nước. Tuy nhiên, với thể chế chính trị một đảng, nguy cơ quan liêu, lạm quyền, đặc quyền, đặc lợi cũng dễ phát sinh, đòi hỏi phải có cơ chế hữu hiệu để phòng ngừa, khắc phục.

Lịch sử cho thấy, nhiều nước đa đảng nhưng đất nước mất ổn định, thậm chí rơi vào xung đột, chiến tranh huynh đệ tương tàn song cũng có nước có thể chế chính trị đó nhưng đất nước lại ổn định, phát triển. Thực tế trên cũng không phải là ngoại lệ với những quốc gia theo thể chế một đảng. Chẳng hạn, với Liên Xô, trong thời gian chưa đầy 20 năm (1955 – 1975), Đảng Cộng sản Liên Xô đã đưa Liên Xô từ lạc hậu thành siêu cường; nhưng chỉ trong vòng hơn nửa năm sau khi cải tổ chính trị theo chế độ Tổng thống và đa đảng kiểu phương Tây (1990) đã có trên 500 chính đảng ở cấp độ nước cộng hòa và toàn quốc lại nhanh chóng đưa đất nước rơi vào hỗn loạn, chia rẽ và cuối cùng sụp đổ.

Trên thế giới hiện nay, nhiều quốc gia theo chế độ đa đảng, nhưng trong đó, số quốc gia giàu có và ổn định, phát triển không nhiều, còn đại bộ phận vẫn lạc hậu, kém phát triển, thậm chí còn chìm trong nghèo đói, nợ nần và khủng khoảng, xung đột triền miên. Ngay dân chủ đa đảng ở Mỹ, Anh… cũng đầy những hạn chế, tật bệnh[4]. Thực chất, cạnh tranh tự do trong cơ chế đa đảng đối lập ở đây chỉ là sự đọ sức giữa các thế lực, tập đoàn tư bản. Các đảng, nhóm chính trị tranh giành, hạ bệ đối thủ bằng các biện pháp và thủ đoạn (bầu cử sớm, tranh luận, vu cáo, bới móc khuyết điểm, đời tư, gây áp lực đòi từ chức, luận tội, đảo chính, ám sát…). Theo quy định, mọi người đều có quyền tự do, dân chủ, nhưng việc thực thi các quyền đó lại phụ thuộc rất lớn vào điều kiện kinh tế, tài chính. Trên thực tế chỉ tầng lớp giàu có mới thật sự có đầy đủ các quyền tự do, dân chủ[5]. Mỹ có GDP cao nhất thế giới (khoảng 21,5 nghìn tỷ USD), tuy nhiên chênh lệch giàu nghèo cũng diễn ra rất khủng khiếp. Ví dụ như, 3 người Mỹ (Bill Gates, Jeff Bezos và Warren Buffett) sở hữu tài sản bằng 50% dân số dưới cùng của đất nước[6]; còn theo FBI mỗi năm, ở Mỹ mỗi năm có tới khoảng 30.000 người chết do các vụ bạo lực liên quan đến súng đạn[7]. Làn sóng biểu tình chống phân biệt chủng tộc ở Mỹ và châu Âu hiện nay đang tiếp tục phơi bày những khuyết tật trong nền dân chủ đa đảng của chủ nghĩa tư bản.

Như vậy, cả lịch sử và logic đều cho thấy, không phải đa đảng sẽ dân chủ hơn, phát triển nhanh hơn; không phải một đảng, ít đảng thì ít dân chủ và chậm phát triển. Nền dân chủ nào, cơ chế chính trị nào thì rốt cuộc, vấn đề cơ bản là đảng nào cầm quyền, đảng đó có đủ khả năng đại diện cho lợi ích quốc gia, dân tộc và quảng đại quần chúng nhân dân hay không? Cũng vì vậy, dừng lại ở hình thức một đảng hay đa đảng vẫn chưa thể hiện được bản chất của một chế độ chính trị là tốt đẹp hay không tốt đẹp.

Thứ tư, mức độ, trình độ dân chủ của một chế độ xã hội không phụ thuộc vào số lượng đảng chính trị

Dân chủ là thành quả đấu tranh lâu dài của nhân loại. Về nguyên tắc trong một thể chế dân chủ, mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân, do đó, chế độ chính trị thế nào không chỉ phụ thuộc vào trình độ phát triển nói chung của xã hội mà còn phụ thuộc vào sự trưởng thành của chủ thể dân chủ, năng lực, phẩm chất của đảng chính trị, phụ thuộc ý nguyện của đại đa số nhân dân và nhiều yếu tố khác như truyền thống, lịch sử, văn hóa, bối cảnh thời đại… Chính nhân dân là người lập ra Nhà nước – cơ quan quyền lực quan trọng nhất của bất cứ quốc gia nào, và cũng chính nhân dân có thể thay thế, phế bỏ nó. Các nguyên tắc, giá trị, chuẩn mực dân chủ được ghi nhận và thực thi trong các lĩnh vực, từ chính trị đến kinh tế, văn hóa, xã hội. Với cấu trúc và nội dung như vậy, rõ ràng mức độ, trình độ dân chủ của một chế độ chính trị không phụ thuộc vào số lượng các đảng chính trị nhiều hay ít.

Lịch sử cho thấy, không phải ít đảng thì ít dân chủ, nhiều đảng thì nhiều dân chủ. Không phải nhiều đảng thì có dân chủ và ngược lại. Một đảng vẫn có thể có dân chủ, có ổn định, phát triển; vẫn có thể có trì trệ, bất ổn và mất dân chủ. Nhiều đảng vẫn có thể có dân chủ, có ổn định, phát triển; vẫn có thể có trì trệ, hỗn loạn, "huynh đệ tương tàn"[8]. Bản chất của một nền dân chủ không lệ thuộc số lượng đảng chính trị mà thể hiện ở việc đảng cầm quyền đại diện cho lợi ích của ai, sử dụng quyền lực Nhà nước vào những mục đích gì trên thực tế. Nhà nước do Đảng ấy lãnh đạo, ghi nhận, bảo vệ thực thi dân chủ như thế nào, đem lại quyền lực và lợi ích, sự phát triển tiến bộ cho ai, vì ai và thực hiện chuyên chính với ai? Dân chủ nghĩa là dân là chủ, dân làm chủ, nhưng dân là ai, số ít hay số đông, thiểu số hay đa số trong xã hội, đó mới là điều quan trọng để đánh giá, xem xét mức độ, trình độ dân chủ của một quốc gia trên các phương diện đời sống xã hội.


Thứ năm, ở nước ta hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất cầm quyền là tất yếu, khách quan

Lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX cho thấy, trước họa xâm lăng của thực dân Pháp, nhiều thế hệ người Việt Nam dưới ngọn cờ của nhiều khuynh hướng, tư tưởng khác nhau đã đứng dậy chống ách ngoại xâm. Các cuộc nổi dậy đó rất anh dũng, rất liên tục, song, qua khảo nghiệm của lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng chính trị duy nhất có khả năng đáp ứng đòi hỏi của dân tộc và thời đại. Chính Đảng đó từ ngày thành lập đã bằng năng lực, trí tuệ, bản lĩnh và đạo đức của mình đã tập hợp, tổ chức lãnh đạo nhân dân hoàn thành mục tiêu giành độc lập cho dân tộc, mở ra một trang mới vô cùng chói lọi trong lịch sử đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, khát vọng, trí tuệ, bản lĩnh, ý chí và sức mạnh Việt Nam được khơi dậy, được tập hợp và phát huy cao độ nên đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, không chỉ đánh thắng "hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, thu giang sơn về một mối mà còn giành được nhiều thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt là gần 40 năm qua, Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước và đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, trong đó có những thành tựu nổi bật về xây dựng và thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Nhà nước ta đã tích cực thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành Hiến pháp, pháp luật bảo đảm thực hiện dân chủ, quyền công dân, quyền con người. Trong thời kỳ đổi mới, nước ta đã hai lần lập hiến (ban hành Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 2013), 3 lần sửa đổi Hiến pháp (năm 1988, 1989 sửa đổi Hiến pháp 1980; năm 2001 sửa đổi Hiến pháp 1992); số luật, pháp lệnh được ban hành tăng gấp gần 9,5 lần so với số luật, pháp lệnh được ban hành trong 41 năm trước đổi mới[9]. Hệ thống chính trị với cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ không ngừng đổi mới, dân chủ hóa cả về tổ chức và phương thức hoạt động. Đảng lãnh đạo bằng phương thức dân chủ và nỗ lực nêu gương về thực hành dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương[10]. Vai trò của Quốc Hội được khẳng định; phương pháp, hình thức sinh hoạt của Quốc Hội đã chuyển mạnh từ chủ yếu là tham luận sang coi trọng tranh luận, giải trình. Chính phủ vận động đổi mới theo hướng liêm chính, phục vụ, kiến tạo, phát triển. Các cơ quan tư pháp đổi mới theo hướng dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ pháp luật, công lý, quyền con người, quyền công dân, chế độ xã hội chủ nghĩa. Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp …phát triển đa dạng và đóng vai trò ngày càng lớn.

Quyền tự do kinh doanh được bảo đảm bằng pháp luật theo hướng cá nhân, tổ chức được sản xuất kinh doanh tất cả những gì pháp luật không cấm. Khuyến khích làm giàu chính đáng, hợp pháp, tích cực xóa đói, giảm nghèo;… Quyền tự do tư tưởng, thông tin, tự do sáng tạo, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tôn giáo được bảo đảm. Intenet, mạng xã hội phát triển mạnh mẽ; văn học nghệ thuật, báo chí, phát thanh truyền hình phát triển sôi động, phong phú theo hướng cổ vũ cái hay, cái mới, cái tiến bộ; nhân rộng điển hình tiên tiến và phê phán, lên án cái hư hỏng, sai trái. Tinh thần tự chủ, cởi mở, dân chủ, tranh luận, thảo luận, sáng tạo trong đời sống văn hóa xã hội tăng lên; đồng thuận xã hội, đoàn kết dân tộc được củng cố, tăng cường. Các hình thức liên kết, hợp tác trong sản xuất kinh doanh, trong hoạt động văn hóa, xã hội được thúc đẩy, phát triển…

"Lửa thử vàng, gian nan thử sức", qua thành công của công cuộc phòng chống Covid -19, Đảng ta một lần nữa chứng minh thuyết phục vai trò lãnh đạo, dẫn đường không thể thay thế của mình đối với nhân dân và đất nước, nhất là trước những thử thách to lớn. Đảng đại diện cho lợi ích, trí tuệ, khát vọng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc đang làm hết sức mình để đổi mới, phát triển, "không để ai bị bỏ lại phía sau". Con người, nhân dân là chủ thể, động lực và là mục tiêu của phát triển. Tính mạng và sức khỏe của nhân dân, của con người là trên hết, trước hết. Đó là giá trị ưu việt của dân chủ, nhân quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

3. Kết luận

Tất cả những sự thật trên đây chứng tỏ rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ tài giỏi, bản lĩnh trong lãnh đạo toàn dân kháng chiến, giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và còn đủ năng lực, trí tuệ, bản lĩnh lãnh đạo, dẫn dắt dân tộc đổi mới, hội nhập, xây dựng, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Rõ ràng, ở Việt Nam hiện nay không cần có thêm các đảng chính trị mới và trên thực tế, không có cơ sở cho tiền đề đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Và vì vậy, những ai mưu toan khởi xưởng, cổ súy cho tư tưởng đó là đi ngược lại sự thật lịch sử, là tiếp tay cho các thế lực xấu trong nỗ lực tuyệt vọng nhằm ngăn cản con đường phát triển lành mạnh, tiến bộ của đất nước.

Ths. Đỗ Năm

Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng


Tài liệu tham khảo:

1. Mai Hải Oanh, Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 21/8/2020.

2. Phạm Văn Đức, Thực hành dân chủ trong điều kiện một Đảng cầm quyền, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2017.

3.Nguồn:https://hcma2.hcma.vn/nghiencuukhoahoc/Pages/bao-ve-nen-tang-tu-tương.aspx?ItemID=11217&CateID=334

4. Tiểu ban lý luận về lĩnh vực xây dựng lực lượng công an nhân dân, Học viện Chính trị công an nhân dân, Đấu tranh chống các quan điểm, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2017.

5. Hội Đồng Lý luận Trung ương, Phê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc cuộc đấu tranh chống suy thoái về chính trị tư tưởng, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" về chính trị trong Đảng , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2017, tr.132.